Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

  • Khóa Lễ Chủ Nhật Hàng Tuần vào lúc 12pm.
  • Sám Hối:
            - Vào ngày Wednesday, 18 Tháng 3 Năm 2026 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm

    Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
    Lễ Vía Phật Xuất Gia: Vào ngày:   Sunday 22-03-2026 Âm Lịch: Lúc: 11:50am - 1:30pm
    Lễ Vía Phật Niết Bàn: Vào ngày:   Sunday 29-03-2026 Âm Lịch: Lúc: 11:50am - 1:30pm
    Sám Hối: Vào ngày:   Wednesday 01-04-2026 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm


     BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
    (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ IV )

    QUÁN BẤT TỊNH


    QUÁN BẤT-TỊNH 

    A.      MỞ-ÐỀ: 

    Trong thế-gian này, không có ai là không tham sống.  Sự tham sống này vô cùng mãnh-liệt, vì nó được di-truyền, tiếp nối từ muôn vạn thế-kỷ cho đến nay.  Vì tham sống nên chúng-sinh tìm hết mọi cách để được sống, để trau-dồi thân-mạng, và để di-truyền sự sống.  Vì tham sống nên người ta bất chấp cả sự bất công, phi lý và tàn-nhẫn, xấu-xa mà mình có thể phạm đến đối với những người và vật khác ở chung quanh.  Vì tham sống, người ta đã không từ chối hiếp-đáp, giành-giựt, cướp bóc, chém giết người đồng loại, và có khi cả đến những đồng-bào thân-thích nữa.  Tóm lại, sự tham sống là một nguyên-nhân chính của khổ-đau, tàn-phá và chết-chóc. 

    Vả lại, càng tham sống bao nhiêu lại càng sợ chết bấy nhiêu.  Mà đã sợ thì không bao giờ có thể vui được. 

    Hơn nữa, có ai sợ chết mà thoát được chết đâu?  Ðã có sống thì tất phải có cái trái lại là chết.  Chúng ta thấy đó, lòng tham sống đem lại cho ta biết bao hậu-quả tai-hại, buồn thảm, xấu-xa. 

                Nhưng cuộc đời, thân mạng, thật có quý-báu, thật có xứng-đáng cho chúng ta tham-lam, mến-chuộng đến thế không? 

                Ðể xét-đoán đúng-đắn giá-trị của thân-mạng, đức Phật dạy chúng ta thực-hành một pháp quán.  Pháp quán đó mệnh danh là “quán Bất-tịnh”. 

    B.       CHÁNH-ÐỀ: 

    I.                   ÐỊNH-NGHĨA 

    “Bất-tịnh” nghĩa là không sạch-sẽ, trong lành.  Quán bất-tịnh tức là quán-sát một cách tỉ-mỉ, cùng-tột thân con người để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch, như hầu hết người đời đều lầm tưởng. 

    II.               QUÁN BẤT-TỊNH NHƯ THẾ NÀO ?

    Trong bài thứ bảy của tập Phật-học Phổ-thông khóa III, chúng ta đã được biết sơ qua về pháp quán Bất-tịnh như thế nào rồi.  Nhưng trong bài đó, chúng ta chỉ mới biết được một phần của pháp quán Bất-tịnh mà thôi, nghĩa là hành-giả, muốn thấy thân xác là bất-tịnh như thế nào, thì vào “thi-lâm” (rừng bỏ xác người chết) để quán-sát.  Nhưng quán-sát như thế, cũng chỉ mới biết một phần của cái thân bất-tịnh này mà thôi.  Hơn nữa, cái phần ấy cũng không phải là phần quan-trọng, vì nó thuộc về giai-đoạn sau khi chết.  Nhất là đối với loại người có quan-niệm: “Chết là hết”, thì “quán thây-ma” như thế chưa phải là phương thuốc mầu-nhiệm để họ nhàm-chán cái thể-xác của mình và của người khác.  Muốn cho họ nhàm-chán, ghê-tởm cái thể-xác thì phải chỉ cho họ thấy tận mắt cái “bất-tịnh” của nó, từ khi nó bắt đầu thành hình cho đến khi nó bị hủy-hoại, từ trong cho đến ngoài, từ thể cho đến tướng.  Ðể sự quán-sát được rốt-ráo, hành-giả phải chia ra làm năm phần, tuần-tự như sau: 

    -         Quán chủng-tử bất-tịnh.

    -         Quán trụ-xứ bất-tịnh.

    -         Quán tự-tướng bất-tịnh.

    -         Quán tự-thể bất-tịnh.

    -         Quán chung-cánh bất-tịnh. 

    Dưới đây chúng tôi sẽ lần-lượt giải rõ năm phần quán trên. 

    1.  Quán chủng-tử bất-tịnh. 

    Chủng-tử là một hột giống, là yếu-tố nguyên-nhân để phát-sinh.  Sự vật nào cũng có nguyên-nhân của nó.  Thân ta là vật hữu-vi, dĩ-nhiên cũng phải có chủng-tử của nó. 

    Chủng-tử của thân mạng gồm có hai phần:  Phần tinh-thần và phần vật-chất.  Phần tinh-thần này cũng gọi là thần-thức.  thức này là nơi dung chứa tất cả nghiệp-nhân lành, dữ của thân, khẩu, ý trong quá-khứ; vì thế, nên cũng gọi là tạng-thức (tạng hay tàng nghĩa là nơi chứa nhóm).  Khi con người chết cái tạng-thức ấy vẫn còn, và theo nghiệp-lực thiện, ác của nó mà dẫn sanh ở các loài, hoặc trầm-luân, hoặc giải-thoát.  Nó là chủ-nhân-ông của kiếp sống, là sanh-lực chính của loài hữu-tình. 

    Cái tạng-thức hay thần-thức này lẽ dĩ-nhiên là không bao giờ trong-sạch cả, vì nó là kết-tinh của những nghiệp-nhân phiền-não: tham, sân, si.  Hễ tham, sân, si… là nhiễm-ô, là bất-tịnh.

    Ðã bất-tịnh thì tất phải tìm bạn bất-tịnh mà kết-giao (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu).  Thần-thức này, để thể-hiện một đời sống khác, đã gá vào, hòa mình vào một chất bất-tịnh.  Chất ấy tức là cái điểm hòa-hiệp của tinh cha, huyết mẹ.  Nói một cách khác rõ-ràng hơn, tức là cái thai mới kết trong con người.  Mà tinh huyết là gì?  Chính là hai chất hôi tanh ở trong con người.  Sự bất-tịnh của nó, tưởng không cần nói, ai ai cũng đã rõ. 

    Xem thế thì đủ biết cái chủng-tử, cái điểm khởi đầu của một thân-mạng con người, từ tinh-thần cho đến vật-chất, đều là nhiễm-ô bất-tịnh cả, không có gì đáng để tự-hào và quý-chuộng. 

    Trong khi quán, hành-giả phải vận-dụng, tập-trung ý-lực để tưởng-tượng một cách rõ-ràng, như thấy trước mắt tất cả sự bất-tịnh của chủng-tử, để mà nhàm-chán thân người, dẹp lòng tham luyến. 

    2.  Quán trụ-xứ bất-tịnh. 

    Trụ-xứ là chỗ ở.  Như chúng ta đã thấy ở đoạn trên, chủng-tử, cái thai hay con người mới cấu thành là một khối hôi-tanh, thì nơi ở của nó cũng không sạch.  Kẻ xấu xa, dơ bẩn thì tìm hoàn-cảnh xấu-xa, dơ-bẩn mà sống, đó là lẽ thường, không có gì là khó hiểu.  Nói một cách rõ-ràng hơn, chỗ ở của cái thai, không nói, ai cũng biết là một cái bọc chứa đầy máu nhớt tanh hôi, dơ-bẩn.  Cái bào-thai nằm lẫn-lộn và lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ-bẩn ấy, như trong một cái ngục tối.  Nhưng trong ngục, dù sao cũng có khoảng trống để xê-dịch, còn có cửa thông hơi để ánh-sáng và không-khí lọt vào.  Chứ trong bào-thai, thì cái thai phải nằm co rút lại, dầm mình trong những chất nước, máu và nhớt vô cùng tanh hôi, và không có được một chút không-khí hay ánh-sáng mặt trời lọt vào.  Cái thai phải sống trong hoàn-cảnh ấy không phải chỉ một ngày, một tuần hay một tháng, mà phải đến chín tháng mười ngày mới thoát ra được.  Không trách gì, khi mới ra chào đời, nó đã khóc thét lên… Cụ Ôn-như-hầu Nguyễn-Gia-Thiều thì bảo nó… 

    “Khóc vì nỗi thiết-tha sự thế,

    Ai bày trò bãi bể nương dâu”. 

    Nhưng theo chỗ chúng tôi nghĩ, nó khóc vì thiết-tha cho sự-thế vô-thường thì chỉ một phần, mà khóc vì tủi-cực, khóc để phản-đối sự giam-cầm quá lâu-lắc, quá tàn-nhẫn, quá thiếu vệ-sinh, quá mất “nhân-phẩm” thì đến mười! 

    Vậy quán trụ-xứ bất-tịnh có nghĩa là vận-dụng toàn lực ý-niệm để nhận chân một cách rõ-ràng như thấy ở trước mắt cái dơ-bẩn, cái bất-tịnh của bào-thai là chỗ ở của chủng-tử, hầu dẹp lòng rạo-rực ham-muốn tham-đắm sắc-thân người.

    3.  Quán tự-tướng bất-tịnh. 

    Sau khi đã thoát bào-thai mà ra chào đời bằng những tiếng khóc, đứa bé bắt đầu sống một đời sống riêng-biệt, có đầy-đủ giác-quan để tiếp-xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ-phận cần-thiết để điều-hòa cuộc sống thể-xác của mình.  Những giác-quan bên ngoài và bộ-phận bên trong ấy, thường bài-tiết những chất dơ-bẩn, hôi-hám; do đó, ta biết rằng cái thân này không trong-sạch.  Vậy quán tự-tướng bất-tịnh là quán những hình-tướng không sạch-sẽ, mà mỗi người đều có thể nhận thấy được, khi nhìn qua cái hình-tướng bên ngoài của xác thân… 

    Trong mỗi thân-xác, ngoài những lỗ chân lông thường bài-tiết những chất mồ-hôi là những thứ nước gần giống như nước tiểu, còn có chín lỗ nữa, mỗi ngày cũng tiết ra nhiều chất nhơ-nhớp, hôi-hám, gớm-ghiết.  Chín lỗ ấy là: đường đại, đường tiểu, miệng, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và hai con mắt.  Chín lỗ này chẳng khác gì chín “cái cống”, lớn có, nhỏ có, có để tải những thứ nhơ-nhớp trong người ra.  Nói một cách không quá đáng, thì chín lỗ cống này còn dơ hơn cả những lỗ cống ta thường thấy ở các đô-thị nữa.  Thật-thế, một lỗ cống dơ nhất cũng chỉ chứa đựng những thứ như nước tiểu, phẩn, đờm, mũi, dãi, ghèn, nhưng ít ra những thứ ấy cũng còn pha trộn và chảy theo với nước lã; chứ chín lỗ trong người chúng ta, chỉ bài-tiết rặt những thứ nguyên chất nói trên, mà không pha-trộn với nước lã như ở các lỗ cống. 

    Ðấy là nói khi thân-xác đang còn mạnh-khỏe, cường-tráng; chứ khi đau ốm, già-nua thân-xác không tự làm chủ được nữa, thì những lỗ ấy tự-động xuất-phát, hay tự-do để cho các thứ dơ-bẩn trong người chảy ra, thì lại càng ghê-tởm hơn nữa.  Những lúc ấy thì những “nguyên chất” nói trên lại càng hôi-hám, ung-độc không-khí một cách gay-gắt, khó thở hơn nữa. 

    Những điều chúng tôi nói trên đây không phải là quá-đáng.  Nếu bình tâm mà xét, chúng ta sẽ thấy thân của mỗi chúng ta thật đang ghê-tởm.  Nhưng ít khi chúng ta thừa-nhận như thế, vì từ lâu đời lâu kiếp, với tánh mê-chấp, với tâm tham-đắm, nhãn-quan của chúng ta như có một bức màn nhung lụa phủ ngang, nên chúng ta trông cái gì cũng thấy đẹp.  Và cho đến khi bức màn ấy đã bị xé toang rồi, sự-thật xấu-xa, dù có bày ra lộ liễu trước mắt, chúng ta cũng bàng-hoàng, không cho là thật.  Vì thế cho nên hành-giả muốn thành-công và nhàm-chán cái thân này, phải quán-tưởng nhiều lần, từ ngày này sang ngày khác, cho đến khi nào nhận thấy một cách rõ-ràng thân này quả thật là bất-tịnh mới thôi. 

    4.  Quán tự-thể bất-tịnh. 

    Như chúng ta đã thấy chín lỗ cống trong người, mỗi ngày bài-tiết không biết bao là thứ nhơ-nhớp.  Vậy chắc-chắn bên trong thân-xác, những chất liệu cấu-kết nên thể-xác chúng ta, cũng không trong-sạch được.  Vậy quán tự-thể bất-tịnh là quán-sát cái thể-chất của thân người, để nhận thấy nó bất-tịnh như thế nào. 

    Thể chất của con người đại-khái gồm có ba chất: 

    -         Chất cứng: như xương, tóc, lông, móng tay v.v…

    -         Chất lỏng: như máu, nước miếng, nước mắt v.v…

    -         Chất sệt (không cứng mà cũng không lỏng) như mở, óc, tủy v.v… 

    Trong các chất ấy, dù cứng, mềm, hay lỏng cũng chẳng có thứ nào là trong-sạch. 

    -  Về chất cứng, như tóc chẳng hạn, là một vật mỹ-quan để chưng diện trên đầu.  Thế thường ai cũng quý nó.  Nhưng nếu không săn-sóc nó một cách chu-đáo, không sử-soạn nó một cách công-phu, nghĩa là không trâm cài, lược giắt, không chải-chuốt, gội rửa, xức ướp nước hoa, mà để bê-tha cho nó tự-do quét bụi, tự-do dầm sương dãi nắng, tự-do rối nùi lại để làm ổ cho trứng chí sinh nở, thì dù cho không xua đuổi, người ta cũng chạy dài, không dám lại gần.  Ðó là chưa nói khi nó bị đốt cháy hay rời da đầu, rơi vào thức-ăn hay vào trong miệng, thì thật là nguy-hiểm vô-cùng.  Tóc là thứ ở nơi cao quý của người mà còn bất-tịnh như vậy, thì những thứ khác như ruột, gan v.v… lại còn bất-tịnh biết chừng nào? 

    -  Về chất lỏng, thì nước miếng là sạch nhất, vì nó được ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi súc rửa nhiều nhất.  Tế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay của chính mình, rủi bị dính vào mặt, vào áo, thì ta liền có những cử chỉ tỏ rõ sự nhờm-gớm ngay. 

    -  Về chất sệt, thì não là phần quan-trọng và được ở trong đầu óc là nơi cao quý nhất.  Nhưng thử tưởng-tượng, khi chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người ngồi bên cạnh ta bị bể đầu, não trắng như đậu hủ tung toé vào mặt mày chúng ta, thì chắc-chắn người thiếu bình-tĩnh sẽ chết giấc vì ghê-tởm. 

    Chỉ đơn-cử một vài thí-dụ trên, cũng đủ thấy rõ được cái bất-tịnh của những chất cấu tạo thành thân-thể chúng ta.  Nếu nói nhiều hơn nữa, lại càng thấy bất-tịnh nhiều nữa, và chắc-chắn một số quý vị độc-giả sẽ nhờm gớm mà không đọc tiếp nữa. 

    5.  Quán chung-cánh bất-tịnh. 

                Chung-cánh ở đây là muốn nói cái giai-đoạn hư-hoại của thân người sau khi trút hơi thở cuối cùng.  Vậy quán chung-cánh bất-tịnh nghĩa là quán cái bất-tịnh của thân người sau khi chết.

                Ðây là thời kỳ chung kết của mấy mươi năm sinh trưởng của thân thể.  Trong kinh đức Phật đã bảo: Thân người là do tứ-đại giả hiệp mà thành, như thế dĩ-nhiên khi chết, xác con người phải trả về cho tứ-đại.  Trước hết, là hơi thở trở về với phong đại.  Kế là hơi ấm trở về với hỏa đại.  Tiếp theo là chất lỏng trong người trở về với thủy đại, và cuối cùng chất cứng và sệt như thịt xương…hóa lần theo địa đại.  Nhất là hai thứ sau này, trong thời kỳ mềm hư, tan rã thì trên thế-gian này không còn thứ gì nhơ-nhớp, hôi-hám, ghê-tởm hơn nữa.  Dù cho xác chết trước kia là người thân mến nhất đời, nhưng để năm bảy ngày chưa kịp tẩm-liệm, chôn cất, thì ta vẫn ghê-tởm, không thể đến gần bên cạnh mà không bịt mũi.  Sự thật tàn-nhẫn này được phơi-bày nhan-nhản khắp nơi trong những giai-đoạn chiến-tranh.  Nói một cách tổng-quát từ kẻ sang đến người hèn, từ kẻ giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ, từ kẻ đẹp đến người xấu, ai ai đến giai-đoạn chung-cánh này, cũng chỉ có một mùi giống nhau: mùi hôi; một chất như nhau; chất thúi.  Cái bất-tịnh của con người trong giai-đoạn kết-thúc này đã rõ rành rành, tưởng không cần phải giải-bày thêm nữa.  Vả lại, trong bài thứ bảy của tập Phật-học Phổ-thông khóa thứ ba, cũng đã nói rõ một cách tường-tận đến cái bất-tịnh của thân người trong giai-đoạn này rồi.  Nếu quý độc-giả nào không nhớ, xin hãy đọc lại đoạn ấy. 

                Tóm lại, qua năm giai-đoạn quán bất-tịnh này: chủng-tử, trụ-xứ, tự-tướng, tự-thể và chung-cánh, chúng ta đã có một quan-niệm rõ-ràng, chân-xác về cái bất-tịnh của thân người.  Cả một thời-gian đằng-đẳng, từ lúc đầu thai đến khi bị vùi xuống đất, quả thật thân người không tìm thấy một tí gì thơm sạch.  Dầu có tài hùng-biện đến đâu, cũng không ai có thể ngụy-biện cho cái thân bất-tịnh trở thành thanh-tịnh được. 

    III.            MỤC ÐÍCH VÀ LỢI ÍCH CỦA QUÁN BẤT-TỊNH 

    Có người sẽ hỏi: Tại sao trong khi cuộc đời đã xấu-xa, đau-khổ, đức Phật lại còn vạch thêm cho người ta thấy cái dơ-bẩn nhớp-nhúa của thân người là gì?  Tại sao không cho người đời có cái ảo-ảnh rằng thân người là đẹp-đẽ, trong sạch để họ có thể tự an-ủi và quên-lãng một phần nào cái xấu-xa của kiếp người, mà lại làm cho đời thêm chán-chường, tuyệt-vọng khi nhận rõ cái thân bất-tịnh của mình? 

    Trước tiên, chúng ta phải nhận-định dứt-khoát rằng: Ðạo Phật là “Ðạo như thật”, đạo của chân-lý.  Ðức Phật không muốn lừa-phỉnh chúng-sinh, lấy xấu làm tốt, lấy dở làm hay, hoặc trái lại. 

    Thứ đến, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: chính cái vọng-tưởng rằng thân người là thơm sạch, đẹp-đẽ đã gây tai-họa lớn cho người đời.  Vì lầm-tưởng thân người có giá-trị quý-báu, nên đối với chính thân mình thì người ta nâng-niu, cưng dưỡng, tìm hết mọi cách, không từ một hành-vi xấu-xa nào để nuôi-dưỡng phụng-sự nó; đối với thân người khác giống thì say-mê, đắm-đuối, tìm mọi cách để chinh-phục, làm của riêng của mình.  Vì sự đánh lầm giá-trị, tham-đắm sắc-thân giả-dối ấy mà cuộc đời chung cũng như cuộc đời riêng, đã xấu-xa lại càng thêm xấu-xa, đã đen-tối lại càng thêm đen-tối. 

    Lại nữa, khi đã đánh lầm giá-trị lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy thúi làm thơm, thì tất-nhiên cái đẹp cái hay, cái thơm chân-thật sẽ bị bỏ rơi, không còn được biết và dùng đến.  Loài người vì đã tham-đắm cái xác-thân nhỏ hẹp, xấu-xa, ngắn-ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng lớn đẹp-đẽ trường-tồn. 

    Vậy đức Phật khi đã xé tan cái màn ảo-ảnh bao bọc xác thân và làm lộ nguyên hình cái xác thân bất-tịnh là nhắm mục-đích hướng tầm mắt và sự hoạt-động của kẻ tu-hành vào cái giá-trị chân-thật đẹp-đẽ, rộng lớn và trường-tồn hơn. 

    Nhưng chúng ta cũng đừng nên kết-luận một cách sai-lầm rằng: cái thân này đã là bất-tịnh, thối tha, thì hãy diệt ngay nó đi, như năm chục vị Tỳ-kheo đã làm, sau khi nghe Phật thuyết-pháp về cái thân bất-tịnh.  Làm như vậy là đã xét đoán một cách nông-nổi, máy-móc!  Ðừng khinh trong túi đất dơ không có ngọc, chớ cho trong bể nước mặn không có vàng.  Chớ nên tưởng rằng trong thân bất-tịnh này không có Phật-tánh, mà đi tìm Phật-tánh ở đâu xa.  Ðức Phật thường dạy: mỗi chúng-sinh đều có Phật-tánh.  Trong kinh Lăng-Nghiêm, Ngài lại phát-minh Phật-tánh “bất sinh diệt” trong cái sinh diệt.  Phật-tánh hay tánh bất-sinh-diệt là căn-bản tinh-thần của ta đó.  Nó thì vô hình nhưng không mất, lẫn-lộn trong “bất-tịnh” mà thường vẫn thanh-tịnh. 

    Biết lợi-dụng cái thân bất-tịnh, vô-thường này mà tìm ra cái “tịnh” cái “thường”, ấy chính là bổn-ý của đức Phật khi dạy pháp quán-tưởng này. 

    C.      KẾT-LUẬN: 

    Chơn-tâm con người vẫn là tâm thanh-tịnh; nó nằm sẵn trong xác thân bất-tịnh của mỗi chúng-sinh.  Nhưng vì người đời bị phiền-não tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt nên say-mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không thấy được bản-tâm thanh-tịnh. 

                Muốn chận đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, đức Phật dạy phải quán bất-tịnh. 

                Vậy quán bất-tịnh có mục-đích: 

    -         Ðối trị lòng tham sắc-dục, chứ không phải để chán-đời, tự hủy-diệt mình.

    -         Dứt trừ vọng-niệm và giác-ngộ Phật-tánh, để tiến mạnh trên đường giải-thoát cho mình và người. 

    -         Nhưng, vàng không tự nhiên nằm sẵn trong tủ, ngọc chẳng phải nằm khơi trên đất.  Phật-tánh cũng vậy:  Nó không tự hiến cho ta khi ta an-nhiên ngồi đợi.  Vậy kẻ tu-hành muốn thành-tựu phép quán này để giác-ngộ Phật-tánh, cần phải gia công tu luyện, và nhất là trau dồi ba đức-tánh sau đây: 

    -         Sáng-suốt : (trí-huệ)  Ðừng để cho dục-vọng làm mờ mắt, lấy giả làm chơn, lấy xấu làm đẹp.  Ðừng hời-hợt nhìn bên ngoài, mà phải sâu-sắc nhìn hẳn vào bên trong. 

    -         Thành-thật : Thấy thơm thì nói thơm, thấy thối thì nói thối, đừng tự-ái, đừng thiên-vị, chỉ một mực tôn thờ sự thật, dù sự ấy làm cho ta đau lòng, buồn tủi. 

    -         Kiên-nhẫn : Phải bền tâm, trì chí, đừng thấy khó mà ngả lòng; đừng thấy đường dài mà lùi bước.  Ở đời không có công việc gì tốt đẹp mà chẳng gặp khó-khăn.  Một nửa sự thành-công là do ở kiên-nhẫn.  Nếu chúng ta có đủ ba đức tánh nói trên, nhất-định ta sẽ thành-tựu tốt-đẹp, trong pháp quán bất-tịnh này.

    Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu - 2023
    Đại Lễ Vu Lan

    Thư Mời về dự Đại Lễ Vu Lan 2567, tại Tu Viện Kim Cang lúc 10:30 AM sáng chủ nhật ngày 27 tháng 8 năm 2023



    Xem chi tiết...

       TIN TỨC SINH HOẠT
    Chương Trình Tết Bính Ngọ

     Xem chi tiết 
      Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu - 2025
      Đại Lễ Phật Đản - PL 2569 (DL 2025)
       PHẬT HỌC CĂN BẢN
    THOÁT ĐẾN THỰC TẾ

    Trong bài diễn văn đọc tại Oslo, khi được trao tặng giải thưởng cao quí về những hoạt động cho hòa bình, bậc vĩ nhân đầy lòng nhân đạo, Bác sĩ Albert Schweitzer nói:

    "Chúng ta phải ứng phó thực tế. Con người đã trở thành siêu nhân. Nhờ khoa học và các tiến bộ kỹ

     Xem chi tiết 
      ĐỨC PHẬT VÀ PHÁP GIÁO HOÁ CỦA NGÀI
      Khắc Phục Định Kiến Và Tập Khí Chỉ Lo Nghĩ Cho Bản Thân
       ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
    ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

    Trước tiên, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của từ đạo đức (Ethico) và các quan niệm tiêu biểu về đạo đức của các vùng văn hóa lớn của nhân loại.

    Tự điển Dagobert D.Runes (1970) định nghĩa: "Ðạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người".

     Xem chi tiết 
      Đạo Phật Và Chữ Hiếu
      Lễ Tháng Bảy Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt
       THIỀN HỌC PHẬT GIÁO
    SỰ SUY NIỆM CỦA NỘI TÂM

    Ngài U Jotika được sinh ra trong một gia đình không thuộc dòng dõi Phật giáo tại Myanmar, và ngài được theo học trong một ngôi trường dòng Thiên Chúa giáo của người La Mã. Ngài đã học ngành kỹ thuật điện tử và đã đọc rất nhiều sách thuộc về khoa học phương Tây, về triết học, và tâm lý học. Ngài đã kết hôn và là cha của 2 người con gái trước khi xuất gia là một tu sĩ. Thay vì thỉnh thoảng viếng thăm gia đình và ở lại Yangoon, thì ngài đã dành trọn thời gian của mình để sống ẩn dật.

     Xem chi tiết 
      Yếu Chỉ kinh Nhất Dạ Hiền
      Pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật (Kinh Pháp Hoa)
       VĂN HÓA PHẬT GIÁO
    Hoài Niệm Hòa Thượng Trí Thủ

    Một buổi chiều xuân năm 1958, tôi lên núi Trại Thủy Nha Trang, thăm chùa Hải Đức. Tôi không vào chùa, tôi đi dạo chung quanh chùa nhìn tứ-vọng-cảnh, rồi ra sân xem những chậu hường, lấy giống từ Đà Lạt. Xa xa nơi bìa sân, một nhà sư áo nâu đứng lần chuỗi dưới gốc cây Bồ đề xanh tươi. Những hạt chuỗi đón ánh mặt trời như những vì sao óng ánh, nối nhau mọc rồi lặn, lặn rồi mọc, đều đặn ung dung.
    Hồi lâu nhà sư lặng lẽ đi ra sau chùa, lên Viện phật học cất trên hông đồi cao. Lòng tôi lâng lâng, và tôi có cảm giác rằng tôi là nhà sư. Đứng im một chỗ, nhưng tôi tưởng chúng tôi đương bước lên đầu non vừa đi vừa lần chuỗi. Cao hứng tôi sáng tác được một luật ngũ ngôn:

     Xem chi tiết 
      Lời Mẹ Nhắn Nhủ
      Lời Mẹ Ru
       PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
    Bát Nhã Tâm Kinh

    Phật Học Phổ Thông Khóa thứ XII

     Xem chi tiết 
      10 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
      09 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
       TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
    TỨ DIỆU ĐẾ

    Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế" (T- Ưng V).

     Xem chi tiết 
      SỰ VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT
      NĂM UẨN

    Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
    Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
    4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712