Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

Sám Hối: Vào ngày Monday, 18 Tháng 2 Năm 2019 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm

Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
Sám Hối: Vào ngày:   Wednesday 3/6/2019 Âm Lịch:
Lễ Vía Phật Xuất Gia: Vào ngày:   Sunday 3/10/2019 Âm Lịch:
Bát Quan Trai: Vào ngày:   Saturday 3/16/2019 Âm Lịch:


 BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
(Phật Học Phổ Thông Khóa thứ III )

ÐẠO ÐẾ (BÁT CHÁNH ÐẠO)


Bát Chánh-đạo 

A.  MỞ-ÐỀ: 

            Trong 37 món trợ đạo, Bát Chánh-đạo là một pháp-môn thường được coi như là pháp-môn chính, được nhắc-nhở đến nhiều nhất.  Vì thế, mỗi khi nói đến Ðạo-đế là người ta liên-tưởng đến Bát Chánh-đạo.  Thậm-chí có người tưởng lầm rằng Ðạo-đế với Bát Chánh-đạo là một. 

            Sở-dĩ Bát Chánh-đạo được xem là pháp-môn chính của Ðạo-đế, vì pháp-môn khác của Ðạo-đế.  Nó rất phù-hợp với mọi căn-cơ, mọi thời-đại, mọi phương-sở; đối với Tiểu-thừa, cũng như Ðại-thừa, người Ðông-phương cũng như Tây-phương ai ai cũng đều công-nhận giá-trị hoàn-toàn cao-cả của Bát Chánh-đạo, và đều áp-dụng pháp-môn này trong sự tu-hành của mình để đoạn-trừ phiền-não khổ-đau, hầu bước lên con đường giải-thoát, an-vui, tự-tại.

B.  CHÁNH-ÐỀ: 

I.  ÐỊNH-NGHĨA BÁT CHÁNH-ÐẠO 

            Bát Chánh-đạo là tám con đường ngay thẳng, hay tám phương-tiện mầu-nhiệm đưa chúng-sanh đến đời sống chí-diệu. 

            Người ta cũng có thể dịch nghĩa “Bát Chánh-đạo” là con đường chánh có tám ngánh, để đưa chúng-sanh đến địa-vị Thánh.

            Cũng có khi người ta gọi Bát Chánh-đạo là “Bát Thánh-đạo” vì cái diệu-dụng của nó sau đây: 

            a)  Những kẻ phàm-phu học đạo, noi theo pháp-môn này mà tu, thì khỏi lầm-lạc vào nẻo nguy-hiểm, lần-hồi sẽ chứng được quả Hiền Thánh. 

            b)  Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương-tiện này thì sẽ đi đến cảnh Niết-bàn. 

            Bát Chánh-đạo gồm có: 

                        1.  Chánh-kiến.                                

2.  Chánh-tư-duy.

                        3.  Chánh-ngữ.                                 

4.  Chánh-nghiệp.

                        5.  Chánh-mạng.                              

6.  Chánh-tinh-tấn.

                        7.  Chánh-niệm.                               

8.  Chánh-định. 

II.  NỘI-DUNG VÀ GIÁ-TRỊ MỖI THÀNH-PHẦN CỦA BÁT CHÁNH-ÐẠO 

1.  Chánh-kiến. 

            Chánh là ngay thẳng, đúng-đắn; Kiến là thấy, nhận biết.  Chánh-kiến hay Chánh-tri-kiến là thấy, nghe, hay biết một cách ngay thẳng, công minh, đúng với sự-thật khách-quan.  Người có chánh-kiến thấy như thế nào thì nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại.  Sự nhận-xét sự vật của người ấy không bị tập-quán, thành-kiến, dục-vọng ngăn che hay làm sai lạc.  Người có chánh-kiến biết phân-biệt cái nào giả, cái nào thật.  Và khi đã biết cảnh giả, vật dối, thì mắt không chăm, tâm không chú; còn khi rõ biết cảnh vật thật, lời-lẽ chân, thì chuyên tâm vào sự-lý chân-thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che ám được. 

            2.  Chánh-tư-duy.   

            Tư-duy là suy-nghĩ, nghiệm xét; nó thuộc về ý-thức.  Chánh-tư-duy là suy-nghĩ, xét nghiệm chân-chánh, tư-tưởng đúng với lẽ phải. 

            Người tu theo phép Chánh-tư-duy, thường xét nghĩ đạo-lý cao-siêu, suy-tìm thể thánh nhiệm-mầu, biết xét những hành-vi lỗi-lầm, những ý-nghĩ xấu-xa để sám-hối; biết suy-nghĩ vê ba món vô-lậu học: Giới, Ðịnh, Huệ, để tu giải-thoát; biết suy-xét vô-minh là nguyên-nhân đau-khổ, là nguồn gốc của tội ác, và tìm phương-pháp đúng-đắn để tu-hành hầu giải-thoát cho mình và cho người. 

            3.  Chánh-ngữ. 

            Ngữ là lời nói; Chánh-ngữ là lời nói chân-thật, công-bình, ngay thẳng và hợp-lý. 

            Người tu theo chánh-ngữ, không bao giờ nói sai sự-thật, không thiên-vị, thấy dở nói hay, không xuyên-tạc, nghe một đường nói một ngả.  Người theo chánh-ngữ rất thận-trọng lời nói; trước khi muốn nói gì phải suy-nghĩ coi có lợi-ích và chân-thật không.  Xưa đức Khổng-Tử vào viếng chốn cổ miếu, thấy bức tranh họa một hình người bị kẹp miệng ba lần, Ngài day lại dạy môn-đệ phải cẩn-thận lời nói. 

            Ngày xưa, trước khi đức Phật sắp nhập Niết-bàn, có đệ-tử hỏi: 

            -  Bạch đức Thế-Tôn, khi Phật nhập Niết-bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại-đạo, không sao phân-biệt với kinh Phật, như thế, biết tin theo lời nào mà tu? 

            Phật dạy: 

            -  Chẳng luận là lời nói của ai, miễn lời ấy đúng sự-thật, hợp chân-lý, thì cứ tin theo mà tu. 

            Vậy, phàm những lời nói đúng lý, hợp lẽ, có lợi-ích cho toàn thể chúng-sanh là chánh-ngữ.  Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế. 

            4.  Chánh-nghiệp. 

            Nghiệp là do người Trung-Hoa dịch chữ Phạn Karma mà ra.  Nghiệp hay Karma nghĩa là hành-động tạo-tác. 

            Chánh-nghiệp là hành-động, việc làm chân-chính, đúng với lẽ phải, phù-hợp với chân-lý, có lợi-ích cho người lẫn vật. 

            Người theo đúng “chánh nghiệp” là người luôn luôn thận-trọng, giữ-gìn mọi hành-động của mình, để khỏi làm tổn-hại đến quyền-lợi, nghề-nghiệp, địa-vị, danh-giá, hạnh-phúc, tánh-mạng của người khác.  Hơn nữa người theo đúng chánh-nghiệp bao giờ cũngg tôn-trọng lương-tâm nghề-nghiệp của mình, luôn luôn hành-động có lợi cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy-sinh quyền-lợi hay tánh-mạng mình để giải-thoát nỗi đau-khổ cho người khác. 

            Ngoài ra cũng gọi là Chánh-nghiệp, khi dùng trí-tuệ để quán tưởng những pháp chân-chính, hoặc ngồi thiền, niệm Phật, hoặc trì tụng kinh hành, để giữ-gìn thân, khẩu, ý ba nghiệp cho thanh-tịnh. 

            5.  Cháng-mạng.           

            Mạng là sự sống, đời sống.  Chánh-mạng là sanh-sống một cách chân-chính bằng nghề-nghiệp lương-thiện, trong-sạch của mình.  Người theo đúng Chánh-mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian-tham, không làm giàu-có trên mồ-hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau-khổ vì nghề-nghiệp của mình.  Người theo đúng Chánh-mạng sống một cuộc đời có ý-nghĩa, lợi mình, lợi người, xứng với bát cơm mình ăn, manh áo mình mặc, chứ không ăn không ngồi rồi, sống bám vào người khác. 

            Người theo Chánh-mạng sống đúng chánh-pháp, không mê-tín dị-đoan, và biết thân tứ-đại vốn vô-thường, nên lấy tịnh-giới làm thể, lấy trí-tuệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an-vui với chánh-pháp. 

            6.  Chánh-tinh-tấn. 

            Chữ tinh-tấn ở đây cũng cùng nghĩa như tinh-tấn đã nói trong hai bài trước, nghĩa là chuyên-cần, siêng-năng, thẳng tiến đến mục-đích đã vạch sẵn, không vì một lý-do gì mà lùi bước.  Chánh-tinh-tấn là chuyên-cần, siêng-năng làm việc chánh-nghĩa, lợi-lạc cho mình cũng như cho người và vật. 

            Người theo đúng Chánh-tinh-tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng-hái sửa mình, cương-quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát-triển mọi hạnh lành (xem bài Tứ Chánh-cần).  Người theo đúng Chánh-tinh-tấn, dũng-mãnh tiến lên trên đường đi đến giải-thoát, cho đến lúc nào đạt được mục-đích cao-cả, cùng tột ấy mới thôi (xem đoạn “Tấn-căn” trong bài Ngũ-căn). 

            Nói tóm lại, người theo đúng Chánh-tinh-tấn, quyết tạo nghiệp vô-lậu xuất-thế-gian, lấy chánh-trí làm mãnh-lực, lấy Niết-bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng trễ, muôn kiếp không dời, quyết gắng công-phu, định thành đạo-quả để trước tự độ, sau hóa-độ chúng-sanh. 

            7.  Chánh-niệm. 

            Niệm là ghi nhớ (cũng như nghĩa chữ niệm ở các bài trước).  Chánh-niệm là ghi nhớ đến những điều hay, lẽ phải, những điều lợi-lạc cho mình cho người, những đạo-lý chân-chính, quý trọng cao-siêu. 

            Chánh-niệm có hai phần: 

            a) Chánh-ức-niệm: là nghĩ nhớ đến các điều lỗi-lầm để thành-tâm sám-hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng-ân: ân cha, mẹ, ân tổ-quốc, ân chúng-sanh và ân Tam-bảo để lo báo đền. 

            b) Chánh-quán-niệm: là dùng tâm từ-bi xét nghĩ cuộc đời là khổ-não, tật-bệnh, mê-mờ mà chúng-sanh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu-độ. 

            Người theo đúng Chánh-niệm, thường quán-sát cảnh chân-đế, năng tưởng niệm các pháp trợ đạo; bất luận ở đâu và làm gì, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô-lậu xuất-thế-gian, dù trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao-lãng. 

            8.  Chánh-định. 

            Chữ “Ðịnh” ở đây cũng đồng nghĩa như những chữ định trong các bài trước, nghĩa là tập-trung tư-tưởng vào một vấn-đề gì, để thấy cho rõ-ràng.  Chánh-định là tập-trung tư-tưởng vào một vấn-đề chính-đáng, đúng với chân-lý, có lợi-ích cho mình và người. 

            Người theo đúng Chánh-định, thường tập-trung tư-tưởng để quán-sát những vấn-đề chính sau đây: 

            - Quán thân bất-tịnh: (bất-tịnh quán) tức là quán tưởng thân không thanh-tịnh, để trừ tham dục, si ái (xem lại đoạn: “quán thân bất-tịnh” trong bài Tứ-niệm-xứ).

 

            - Quán từ-bi: (từ-bi quán) là quán tưởng tất cả chúng-sanh đều là một chân-tâm, bình-đẳng không khác, để đoạn trừ thù-hận, và mở rộng lòng thương yêu để cứu-độ chúng-sinh. 

            - Quán nhân-duyên: (nhân-duyên quán) là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm-niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp. 

            - Quán giới phân-biệt: (giới phân-biệt quán) nghĩa là phân-biệt và quán tưởng sự giả lập của 18 giới: 6 căn, 6 trần, 6 thức, để thấy không thật có “ngã, pháp” ngõ hầu trừ ngã chấp, pháp chấp. 

            - Quán hơi-thở: (sổ-tức quán) nghĩa là quán-tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đối trị sự tán-loạn của tâm thức. 

C.  KẾT-LUẬN: 

            Như đã nói ở đoạn mở đề, Bát Chánh-đạo là pháp-môn rất được thông-dụng.  Sự thông-dụng này sở-dĩ có được là nhờ lợi-ích thiết-thực và quý báu của nó đối với đời sống cá-nhân của người tu-hành, đối với xã-hội, và đối với đời sống tương-lai.  Có thể tóm tắt những lợi-ích, hay công-năng của Bát Chánh-đạo trong ba điểm sau đây: 

            1. Cải thiện tự thân. 

            Nếu con người chuyên tu theo tám đường chánh này, thì sửa đổi được tất cả mọi sụ bất chính, mọi tội lỗi trong đời sống hiện-tại của mình, như ý-niệm mê-mờ, ngôn ngữ đảo-điên, hành vi sái quấy, đời sống vô luân.  Khi những điều trên này đã được cải-thiện, thì tất cuộc đời riêng của mỗi người sẽ chân-chính, lợi lạc và thiện mỹ. 

            2. Cải thiện hoàn-cảnh. 

            Nếu trong xã-hội, ai ai cũng đều chuyên tu theo tám đường chánh này, thì cảnh thế-gian sẽ an-lành, tịnh-lạc, không còn chiến-tranh xâu xé, giết hại lẫn nhau. 

            3. Nên quả Bồ-đê. 

            Người chuyên tu theo tám đường chánh này, không những có nhiều lợi-lạc trong cuộc đời hiện-tại mà còn gây tạo cho mình một tương-lai tươi-sáng, gieo trồng cho mình những hạt giống Bồ-đề, để ngày sau gặt hái quả vô-thượng Niết-bàn, đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

            Vì những lợi-ích quý báu như thế, chúng tôi xin khuyên mọi Phật-tử hãy phát-nguyện cương-quyết tu theo Bát Chánh-đạo. 

* 

TỔNG-KẾT VỀ ÐẠO-ÐẾ 

            Chúng ta vừa biết qua nội-dung của Ðạo-đế, hay 37 món trợ đạo là : Tứ niệm-xứ, Tứ Chánh-cần, Tứ Như-ý-túc, Ngũ-căn, Ngũ-lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Chánh-đạo.  Phần Ðạo-đế đã chiếm hết bốn bài trong mười bài nói về Tứ-đế.  Chỉ cái số lượng ấy cũng đủ nói lên sự quan-trọng mà đức Phật muốn dành cho phương-pháp tu-hành để chứng nhập Niết-bàn.  Nhưng chúng ta đừng nên thấy quá nhiều pháp-môn mà vội nản lòng, thối-chí.  Vì căn-cơ chúng-sinh không đều, nên đức Phật cần chế ra nhiều pháp-môn, để mỗi người có thể tùy theo căn-cơ mình mà lựa pháp-môn thích hợp để tu-hành.  Tất nhiên một người có thể tu nhiều pháp-môn, nếu có đủ khả-năng, trí-tuệ, sức-khỏe; nhưng nếu không đủ điều kiện, thì tu một pháp-môn cũng được.  Khi tu thành một pháp, các pháp kia đều thành, vì nó có nhiếp thuộc lần nhau, trợ thành cho nhau. 

            Vậy Phật-tử không nên ngã lòng thối chí.  Với sự quyết tâm, với đức tinh-tấn, chúng ta tuần tự tiến dần vào Ðạo-đế, không lo sợ, không nghi ngờ, cũng không quá bồng bột, nóng nảy, thì rồi chậm hay nhanh, thế nào cũng phải đến đích. 

            Hỡi quý vị Phật-tử!  Mười phương các đức Như-Lai, đầu tiên đều nhờ các pháp-môn này mà dần dần được viên-thành Phật-quả.  Tất cả các thánh-giả trong ba thừa, đều nương vào đây để tu-hành cho đến ngày đạt đích.  Chúng ta, đàn con Phật, những người đang canh-cánh ôm-ấp bên lòng chí nguyện thành Phật, để tự cứu độ và cứu độ chúng-sanh, lẽ nào trong lúc đức Phật đã vì lòng từ-bi mà soạn sửa cho chúng ta mọi phương-tiện, mọi hành-lý để tiến lên đường giải-thoát, chúng ta lại do-dự, chần chờ hay thối thát ? 

            Vậy chúng ta hãy mau mau cất bước lên đường Giải-thoát.

An Cư Kiết Hạ & Khóa Tu Học 2 tuần



Xem chi tiết...

   TIN TỨC SINH HOẠT
Thư Chúc Tết

Trước thềm năm mới, tôi kính gởi đến quí vị và bửu quyến lời chúc lành, an vui, hạnh phúc, sức khỏe dồi dào, phước đức thêm nhiều, thiện duyên tăng trưởng, làm ăn phát đạt, mọi sự mong cầu đều được như ý

 Xem chi tiết 
  Đại Lễ Vu Lan PL 2562
  Thư Mời Phật Đản - Phật Lịch 2562
   PHẬT HỌC CĂN BẢN
THOÁT ĐẾN THỰC TẾ

Trong bài diễn văn đọc tại Oslo, khi được trao tặng giải thưởng cao quí về những hoạt động cho hòa bình, bậc vĩ nhân đầy lòng nhân đạo, Bác sĩ Albert Schweitzer nói:

"Chúng ta phải ứng phó thực tế. Con người đã trở thành siêu nhân. Nhờ khoa học và các tiến bộ kỹ

 Xem chi tiết 
  ĐỨC PHẬT VÀ PHÁP GIÁO HOÁ CỦA NGÀI
  Khắc Phục Định Kiến Và Tập Khí Chỉ Lo Nghĩ Cho Bản Thân
   ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

Trước tiên, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của từ đạo đức (Ethico) và các quan niệm tiêu biểu về đạo đức của các vùng văn hóa lớn của nhân loại.

Tự điển Dagobert D.Runes (1970) định nghĩa: "Ðạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người".

 Xem chi tiết 
  Đạo Phật Và Chữ Hiếu
  Lễ Tháng Bảy Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt
   THIỀN HỌC PHẬT GIÁO
SỰ SUY NIỆM CỦA NỘI TÂM

Ngài U Jotika được sinh ra trong một gia đình không thuộc dòng dõi Phật giáo tại Myanmar, và ngài được theo học trong một ngôi trường dòng Thiên Chúa giáo của người La Mã. Ngài đã học ngành kỹ thuật điện tử và đã đọc rất nhiều sách thuộc về khoa học phương Tây, về triết học, và tâm lý học. Ngài đã kết hôn và là cha của 2 người con gái trước khi xuất gia là một tu sĩ. Thay vì thỉnh thoảng viếng thăm gia đình và ở lại Yangoon, thì ngài đã dành trọn thời gian của mình để sống ẩn dật.

 Xem chi tiết 
  Yếu Chỉ kinh Nhất Dạ Hiền
  Pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật (Kinh Pháp Hoa)
   VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Hoài Niệm Hòa Thượng Trí Thủ

Một buổi chiều xuân năm 1958, tôi lên núi Trại Thủy Nha Trang, thăm chùa Hải Đức. Tôi không vào chùa, tôi đi dạo chung quanh chùa nhìn tứ-vọng-cảnh, rồi ra sân xem những chậu hường, lấy giống từ Đà Lạt. Xa xa nơi bìa sân, một nhà sư áo nâu đứng lần chuỗi dưới gốc cây Bồ đề xanh tươi. Những hạt chuỗi đón ánh mặt trời như những vì sao óng ánh, nối nhau mọc rồi lặn, lặn rồi mọc, đều đặn ung dung.
Hồi lâu nhà sư lặng lẽ đi ra sau chùa, lên Viện phật học cất trên hông đồi cao. Lòng tôi lâng lâng, và tôi có cảm giác rằng tôi là nhà sư. Đứng im một chỗ, nhưng tôi tưởng chúng tôi đương bước lên đầu non vừa đi vừa lần chuỗi. Cao hứng tôi sáng tác được một luật ngũ ngôn:

 Xem chi tiết 
  Lời Mẹ Nhắn Nhủ
  Lời Mẹ Ru
   PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
Bát Nhã Tâm Kinh

Phật Học Phổ Thông Khóa thứ XII

 Xem chi tiết 
  10 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
  09 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
   TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
TỨ DIỆU ĐẾ

Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế" (T- Ưng V).

 Xem chi tiết 
  SỰ VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT
  NĂM UẨN

Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712