Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

Sám Hối: Vào ngày Monday, 28 Tháng 5 Năm 2018 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm

Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
Sám Hối: Vào ngày:   Wednesday 6/13/2018 Âm Lịch:
Bát Quan Trai: Vào ngày:   Saturday 6/16/2018 Âm Lịch:
Sám Hối: Vào ngày:   Wednesday 6/27/2018 Âm Lịch:

Dai Le Phat Dan


 BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
(Phật Học Phổ Thông Khóa thứ V )

PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CẬN ÐẠI


PHONG-TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO

trên Thế-Giới và ở Việt-Nam hiện-đại 

A.    MỞ-ÐỀ: 

Trong thế-kỷ thú 18 và 19 ở Việt-Nam cũng như ở các nước Phật-giáo khác, sự truyền-bá đạo Phật hình như thiếu một luồng sinh-khí mới, nên cứ chìm dần, chìm dần, tưởng gần như sắp cáo chung.  Nhất là khi Á-đông mới bắt đầu tiếp-xúc với cái văn-minh sống-động, rực-rỡ của Tây-phương; các dân-tộc Á-động bị “mặc cảm tự ti”, cho rằng mình thua sút Tây-phương về mọi phương-diện.  Do đó, các dân-tộc Á-châu, nhất là các dân-tộc đông-đảo như Ấn-độ, Trung-hoa, đều ruồng-rẫy cái gia-tài tinh-thần của ông cha, để đi theo học đòi cái văn-minh cơ-khí, hùng mạnh của Tây-phương.  Ðạo Phật, cũng như các tôn-giáo khác ở Á-châu, chỉ còn lại cái hình-thức lễ-bái cổ-truyền, còn cái phần tinh-hoa quý-báu của nó đã bị chôn sâu trong lớp bụi quên lãng của thời-gian. 

Nhưng sau cái chóa mắt của những phút đầu tiếp-xúc với ánh sáng lạ, người Á-châu nhận thấy văn-minh Âu-Tây chưa hẳn đã toàn thiện.  Những nhà tư-tưởng, triết-gia, lãnh-đạo tôn-giáo đạo-đức… sau khi đã học được phương-pháp suy-luận, phân-tách, tìm tòi một cách có khoa-học của Tây-phương, đã quay về đào xới, khám-phá cái gia-tài tinh-thần của ông cha đã lại mà họ đã ruồng-rẫy.  Giúp vào công việc ấy, có những nhà bác-học, khảo-cổ, nhân-chủng-học đã tìm thấy rất nhiều bằng chứng cụ-thể nói lên giá-trị chân-thật của nền văn-minh Á-đông mà đạo Phật đã là động-lực chính. 

Do đó, đạo Phật được đặc-biệt chú ý.  Và càng đi sâu vào văn-hóa Phật-giáo, người ta (Âu-tây cũng như Á-đông) lại càng ngạc-nhiên vì tánh-chất thuần-thiện, cao khiết, trong sáng của nó.  Từ đấy, một luồng sinh-khí mớI thổi lên, đem lại cho ngườI tín-đồ Phật-giáo nhiều phấn-khởi và tin-tưởng ở giáo-lý cao-siêu của đức Bổn-sư Thích-Ca.  Luồng sinh-khí trên đã gây được một phong-trào chấn-hưng Phật-giáo, mỗi ngày mỗi lan rộng, ban đầu ở các nước Á-châu, và bây giờ ở khắp năm châu bốn biển.  Trong cái bừng dậy chung ấy, tín-đồ Việt-Nam cũng đã đóng góp một cách xứng-đáng cái phần công-đức của mình, và có thể tự hào rằng mình không quên sứ-mạng. 

Vậy dưới đây, chúng ta hãy tuần-tự điểm qua cái phong-trào chấn-hưng ấy trên các quốc-gia Phật-giáo như thế nào, trước khi nói riêng về phong-trào chấn-hưng ở Việt-Nam trong hiện-tại. 

B.    CHÁNH-ÐỀ: 

I.                   SỰ CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO Ở ẤN-ÐỘ VÀ CÁC NƯỚC THUỘC KHU-VỰC ẢNH-HƯỞNG ẤN-ÐỘ. 

1.     Phật-giáo Ấn-độ. 

Như chúng ta đã thấy trong đoạn nói về lịch-sử truyền-bá đạo Phật tại Ấn-độ ở bài thứ nhất: mặc dù là xứ sở phát-nguyên Phật-giáo, Ấn-độ chỉ thấy được cái vẻ huy-hoàng của ánh đạo vàng trong 15 thế-kỷ đầu.  Những thế-kỷ về sau, đạo Phật lu mờ dần ở đây và nhường chỗ cho Bà-la-môn giáo và Hồi-giáo để lan tràn ra các lân bang. 

Vào thế-kỷ thứ 18, đạo Phật ở Ấn-độ chỉ còn là một vang bóng của thời xưa.  Nhưng khi người Anh bắt đầu đi sâu trong sự tìm hiểu nên văn-hóa Ấn-độ, và ngạc-nhiên khi nhận thấy một nền văn-chương, triết-học thâm-thúy của đạo Phật đã bị chôn vùi trong quên lãng, thì người Anh cũng như người Ấn-độ đều đồng thanh hô-hào và cổ-xúy sự phục-hưng Phật-giáo. 

Trong số những học-giả Phật-giáo đầu tiên đã có sáng-kiến xây dựng phong-trào chấn-hưng này, thì ông Rayendrachilala là người có công nhất.  Tiên-sinh đã căn-cứ vào 144 loại kinh chữ Phạn ở Népal để viết ra cuốn “Văn-chương Phật-giáo” bằng Phạn-ngữ của Népal.  Năm 1888, Tiên-sinh lại cho xuất-bản quyển học-giả Ấn-độ khác, lại đề-xướng lên hội “Nghiên-cứu Thánh-điển Phật-giáo Ấn-độ và nhân-loại học-thuật”.  Chính hội Nghiên-cứu này đã thu-thập được một số đông hội-viên thông-thái, gồm người Ấn-độ lẫn Anh-quốc và đã gây nên phong-trào tìm hiểu Phật-giáo trong nước Ấn-độ và sang đến Anh-quốc. 

Người có công thứ ba, mà hiện nay Tổng-hội Phật-giáo Quốc-tế quyết-nghị sẽ làm lễ kỷ-niệm đệ bách chu niên sanh nhật (17-6-64) khắp nơi trên thế-giới là Ðại-đức Anagarika Dharmap ala.  Chính Ðại-đức là người đã sáng-lập ra hội Ðại-Bồ-đề (Mahabodhi) là một đoàn-thể rất có thế lực trong công cuộc vận-động phục-hưng Phật-giáo ở Ấn-độ ngày nay.  Sáng-lập vào năm 1891, hội này dần dần có chi-nhánh ở các nước Âu-Mỹ và lân bang Ấn-độ. 

Về công-đức của Ðại-đức Dharmapala, quyết-nghị của Ðại-hội Phật-giáo Quốc-tế lần thứ VI họp tại Nam-Vang đã ghi như sau: 

“Ðại-đức Anagarika Dharmapala đã tiên-phong hướng-đạo việc phục-hưng Phật-giáo Ấn-độ, và cũng là vị pháp-sư đầu tiên tới thăm các nước Âu-châu và Mỹ-châu.  Nhờ công-trình đó mà con đường hoằng-pháp mới được vạch rõ tại các nước Âu-Mỹ như chúng ta đã nhận thấy ngày nay…” 

Ðồng thời với sự chấn-hưng Phật-giáo ở Ấn-độ, trong các nước trước kia chịu ảnh-hưởng văn-hóa Ấn-độ và nằm trong khối Tiểu-thừa Phật-giáo như Tích-Lan, Miến-Ðiện, Thái-Lan… cũng có những luồng sinh-khí mới đem lại cho nền Phật-giáo cổ-truyền một sắc-thái mới-mẻ, trong sáng và hùng mạnh. 

2.     Phật-giáo Miến-Ðiện. 

Hiện nay ở Miến-Ðiện, Phật-giáo được xem như là quốc-giáo.  Từ 1948, sau khi thu-hồi độc-lập, chánh-phủ Miến-Ðiện mà vị Thủ-tướng (ông U-Nu) là một Phật-tử, nhiều kế-hoạch dự-trừ chấn-hưng Phật-giáo đã được thực-hiện.  Chính-phủ đã cho xây dựng khắp nơi trong nước nhiều Phật-học-viện, nhiều trường Trung, Ðại-học Pa-li, tổ-chúc những cuộc giáo-lý và triệu-tập nhiều đại-hội Phật-giáo quan-trọng. 

Năm 1954, đại-hội tu-chỉnh kinh-điển Phật-giáo lần thứ VI được tổ-chức tại Miến, với sự tham-dự của 2.5000 bậc danh-tăng ở các nước Tích-Lan, Cam-Bốt, Ai-Lao, Thái-Lan, Ấn-Ðộ, Hồi-quốc… để tụng duyệt lại tất cả những bản kinh Pa-li.  Ðây là một công-tác trọng-đại không riêng đối với Phật-giáo Miến-Ðiện mà chung cho cả Phật-giáo thế-giới. 

3.     Phật-giáo Tích-Lan. 

Tích-Lan cũng là một xứ mà đạo Phật rất thạnh-hành.  Dân-chúng hầu hết là Phật-tử.  Số tu-sĩ trong nước rất đông và rất có ảnh-hưởng trong quần-chúng cũng như trong chính-quyền.  Năm năm sau trận thế-chiến thứ hai chấm dứt (1950), chính Tích-Lan là nước đầu tiên đứng ra triệu-tập một Ðại-hội Phật-giáo Thế-giới gồm trên 500 đại-biểu thuộc 26 quốc-gia Phật-giáo tại thủ-đô Cô-lôm-bô (Colombo).  Chính trong Ðại-hội này, Tổng-hội Phật-giáo Thế-giới đã được thành-lập, và một Ban Chấp-hành đã được bầu cử, mà vị Chủ-tịch là một học-giả Phật-tử Tích-Lan, Bác-sĩ Malalasekera. 

4.     Phật-giáo Thái-Lan. 

Cũng như Miến-Ðiện, Phật-giáo Thái-Lan được xem như là quốc-giáo.  Vị Trưởng-lão Tăng-thống (Vua Sãi) là người có một ảnh-hưởng tinh-thần và được tôn-trọng hơn cả Quốc-Vương. 

Hiện nay Thái-Lan có phỏng chừng trên 20.000 ngôi chùa và 200.000 Tỳ-kheo và Sa-di.  So vớI hai mươi triệu dân Thái, thì số tu-sĩ như thế cũng là một tỷ-lệ rất cao, cứ 100 người dân thì có một tu-sĩ (200.000/20.000.000  = 1/100).  Nhưng cái đà phát-triển vẫn đang còn mạnh, nhiều ngôi chùa đồ-sộ đang được xây-cất và thiều thanh-niên đang theo tập môn tham-thiền trong các thiền-viện.  Hiện nay, Thủ-tướng Thái-Lan vừa mới đưa ra một dự-án và đã được toàn thể nội các chấp-thuận là thành-lập những cơ-sở thích-đáng dành cho các Tỳ-kheo ngoại-quốc để học đủ phương-tiện đến tu học Phật-pháp. 

5.     Phật-giáo Cam-Bốt. 

Phật-giáo Cam-Bốt từ xưa đã là một quốc-giáo.  Từ kinh đô cho đến thôn xóm hẻo lánh xa xôi, màu vàng của các ngôi chùa và các tấm y của tu-sĩ chói rực khắp nơi.  Ðời sống đạo lý và đời sống thường nhật của dân gian đã ăn nhịp một cách khắn khích.  Cũng như ở Miến-Ðiện, ở Thái-Lan, ở Cam-Bốt, cứ mỗi năm vào đầu mùa mưa, các thanh niên có lệ vào tu tại các chùa trong một thời-gian, dài hay ngắn tùy nguyện của mình.  Cái tục lệ quý báu này, không phải chỉ có người thường dân thi hành mà ngay cả đến các vị vua quan nữa. 

Từ ngày thu-hồi độc-lập, chính phủ Cam-Bốt đặc biệt chú tâm phát-triển và chấn hưng Phật-giáo. 

Theo gót các nước đàn anh Phật-giáo, Cam-Bốt cũng vừa tổ chức tại Nam-Vang đại-hội Phật-giáo thế-giới lần thứ VI và nhiều thành quả tốt đẹp đã thu hoạch được trong đại-hội này. 

Trên đây là đại khái về phong trào chấn hưng và phát-triển Phật-giáo ở các nước theo phái Tiểu-thừa hay Nam-Tôn.  Tiếp theo đây, chúng ta sẽ nhận xét phong trào chấn hưng và phát-triển Phật-giáo ở các nước theo Ðại-thừa hay Bắc-Tôn.

II.                 SỰ CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO Ở TRUNG-HOA VÀ CÁC LÂN BANG. 

1.     Phong-trào chấn-hưng Phật-giáo ở Trung-Hoa. 

Như chúng ta đã biết, vào cuối đời nhà Thanh, Phật-giáo ở Trung-Hoa suy đồi rất nhiều.  Mê-tín dị-đoan đã xâm nhập một cách trầm trọng vào các thiền-môn.  Tăng ni, cũng như tín-đồ ít ai hiểu rõ giáo-lý cao siêu của Ðức Phật, nên Phật-giáo cũng bị người ta liệt vàơ hàng các tà đạo có nguy hại cho đời sống xã-hội quốc-gia. 

Ảnh-hưởng của văn-minh Âu-Tây bắt đầu vang dội trong nước.  Một phong trào rộng lớn bài trừ mê-tín dị-đoan nổi dậy trong toàn quốc.  Các chùa chiền phần nhiều bị đổi ra làm trường học hoặc các việc công ích xã-hội khác ! 

May sau, một số các học-giả Trung-Hoa có tinh-thần quốc-gia, nhận thấy cần phải làm một cuộc thanh lọc trong nền văn-minh đông phương để chọn những cái hay thì giữ lại, và những cái dỡ thì bỏ đi.  Sau cuộc tìm tòi, tra cứu ấy, các nhà nghiên cứu đồng thành tán dương giá trị chân chính cao siêu của Phật-giáo. 

Từ khi cách-mạng Tân-hợi (1912) nổi lên lật đổ nhà Thanh và lập nên nền Dân-quốc, thì phong-trào học và nghiên-cứu Phật-giáo càng tăng.  Nhờ thế Phật-giáo trở nên thịnh hành và phát-triển mạnh. 

Trong mấy năm đầu của nền Dân-quốc, có ngài Kỉnh-sơn cùng các đồng chí sa-môn và cư-sĩ đứng lên sáng lập Trung-quốc Phật-giáo Tổng-hội.  Các cư-sĩ ở Thượng-Hải cũng lập Phật-giáo cư-sĩ lâm, Phật-giáo tịnh nghiệp xã. 

Về sau, các vị Tăng-già và cư-sĩ tiếp tục mở ra ở nhiều nơi những Phật-học-viện, hay những giảng đường như: Giảng đường chùa Quán-Tôn ở Ninh-Ba (Chiết-Giang) do ngài Ðế-Nhàn pháp-sư chủ giảng; ở Vũ-Xương (Hồ-Bắc) có Phật-học viện do ngài Thái-Hư pháp-sư chủ giảng; ở Giang-Tô có Hoa-Nghiêm học viện, ở Nam-Kinh có Nội-hộc-viện do Âu-Dương Vĩnh-Tô chủ giảng. 

Cùng một lần với sự thành lập các Phật-Học-Ðường nói trên, nhiều tạp chí Phật-giáo của các nhóm nghiên-cứu đã được xuất-bản ở khắp nước để hoằng dương giáo nghĩa như: Phật-học tùng báo, Hải-triều-âm, Cư-sĩ lâm san, Tịnh-nghiệp nguyệt san, Chi-na nội học, Oai-âm, Vi-Diệu Thanh, Phật-giáo Tân-văn v.v… 

Trong số các vị đề xướng lên phong-trào chấn hưng Phật-giáo ở Trung-Hoa, người đã có công-đức và ảnh-hưởng lớn nhất là ngài Thái-Hư pháp-sư.  Pháp-sư là một vị cao tăng học rộng, hiểu nhiều và rất hăng hái với việc hoằng dương chánh pháp.  Ngài đã đi giảng về Phật pháp khắp nơi trong nước và sang tận Âu-Mỹ để giới thiệu Ðại-Thừa Phật-giáo cho người Tây-phương.  Ngài viết rất nhiều sách nói về đạo Phật và đứng chủ trương tờ Hải-triều-âm là một tạp chí rất có giá trị.  Những hoạt-động Phật-sự của Ngài không những chỉ gây ảnh hưởng lớn lao quý báu cho Phật-giáo Trung-Hoa mà còn lan rộng ra ở các nước lân bang như Việt-Nam, Nhật-Bản và sang tận đến Âu-Mỹ. 

2.     Phật-giáo ở Nhật-Bản. 

Nhật-Bản chịu ảnh hưởng của Ðại-Thừa Phật-giáo từ Trung-Hoa truyền sang từ lâu đời, và là nước có một nền Phật-giáo mạnh nhất trong các nước theo Ðại-Thừa.  Ngoại trừ một số người theo thần đạo và Thiên-chúa-giáo, còn đa số dân chúng đều là Phật-tử thuần thành.  Chùa chiền được các đời vua chúa trong quá khứ xây dựng rất nhiều khắp trong nước, và ngày nay các thắng cảnh có tiếng nhất ở Nhật-Bản đều là những danh lam.  Người Nhật lấy làm hảnh-diện về kiến-trúc và về đồ sộ của các danh lam ấy lắm, cho nên người khách ngoại quốc nào đến viếng nước Nhật cũng được đem đến giới-thiệu các cảnh chùa chiền trước hết. 

Về phần giáo-lý thì đạo Phật ở Nhật-Bổn cũng chia ra nhiều tôn phái như ở Trung-Hoa.  Nhưng các tôn được thạnh hành nhất là Thiền-tôn, Pháp-hoa tôn và Pháp-tướng tôn. 

Ðạo Phật Nhật-Bản trong quá khứ đã có một thành tích rất vẻ-vang mà hiện nay vẫn còn rực-rỡ.  Trong buổi giao thời tiếp xúc với Âu-Tây, trong khi đạo Phật ở các nước Á-đông đều có một giai-đoạn suy đồi, thì đạo Phật ở Nhật-Bản vẫn giữ được uy-thế của mình trong toàn quốc.  Và ngày nay, với một tinh-thần biết dung-hòa và cải tiến, biết tồn cổ mà cũng biết nghinh tân, nên đạo Phật Nhật-Bản vẫn đi theo kịp cái đà tiến bộ chung của toàn quốc và giữ giềng mối cho luân thường đạo đức ở trong nước.  Chúng ta chắc rằng rồi đây, sau khi các nước Phật-giáo ở Á-châu được dịp tiếp xúc và thông-cảm với nhau nhiều hơn nữa, thì Nhật-Bản sẽ là nước xứng đáng đứng ra lãnh nhiệm vụ lãnh đạo phong-trào Phật-giáo thế-giới. 

III.              SỰ TRUYỀN-BÁ PHẬT-PHÁP Ở CÁC NƯỚC ÂU-MỸ. 

Từ khi tiếp xúc với Á-châu, người Tây-phương bắt đầu khảo cứu nền văn-minh cổ của châu này và khám phá ra rằng văn-hóa Á-châu không phải tầm thường như họ lầm tưởng lúc đầu, mà trái lại có nhiều điểm quí giá cần học tập.  Trong kho tàn quí báu ấy, Ðạo Phật đã phát chiếu ra nhiều hào quang rực rỡ.  Do đó, các học giả Tây-phương đã đổ xô sang nghiên-cứu giáo-lý nhà Phật và đã viết rất nhiều tác phẩm về đạo Phật.  Dần dần, đạo Phật đã không còn xa với quần chúng Âu-mỹ nữa.  Mở đầu phong trào học Phật là những học-giả người Anh, người Ðức và người Pháp, là những dân-tộc tiếp xúc nhiều với Á-châu.  Sau đó, họ thành lập những hội Phật-học và xuất-bản những tạp chí nói về Phật-pháp.  Những hội này có rất đông hội-viên thực hành rất hăng-hái.  Hiện nay ở Âu-châu và Mỹ-châu hầu hết các nước đều có hội Phật-học, báo chí truyền-bá Phật-pháp, những chùa hay thiền-viện để các tín-đồ hay hội-viên đến tập tham thiền.  Có nhiều vị sang ngay ở các nước Phật-giáo Á-châu như Ấn-độ, Tích-lan, Thái-lan để xuất-gia cầu đạo. 

Trong các đại-hội Phật-giáo thế-giới, Phật-tử Âu-mỹ đều có đại diện của họ và đã tỏ ra là những Phật-tử thuần thành. 

Những bằng chứng cụ-thể trên, cho phép chúng ta hy-vọng rồi đây đạo Phật sẽ bành-trướng mạnh mẽ ở Âu-mỳ và đem lại cho các dân-tộc ấy một nguồn an lạc mà họ không tìm thấy ở nên văn-minh cơ-khí họ đã sáng tạo ra. 

IV.              CÁC ÐẠI-HỘI PHẬT-GIÁO THẾ-GIỚI. 

Nhân loại càng tiến bộ, sụ giao thông càng dễ dàng mau lẹ, thì các dân-tộc trên thế-giới không còn lạ lùng xa cách với nhau nữa.  Ðạo Phật ngày nay đã thành một tôn-giáo có tầm hoạt-động khắp thế-giới, thì người Phật-tử, dù ở chân trời nào cũng vẫn là anh em một nhà, cùng thờ một bật thầy chung là Ðức Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni.  Ý niệm thống nhất những hoạt-động và những tổ-chức Phật-giáo đã manh-nha từ trước trận thế-chiến thứ II, nhưng phải đợi đến sau thế-chiến thứ II mới thực hiện được. 

Ðại-hội Phật-giáo thế-giới đầu tiên đã được triệu tập vào năm 1950 tại Cô-lôm-bô, kinh đô Tích-Lan, gồm gần 500 đại biểu của 26 quốc gia và tổ-chức Phật-giáo trên thế-giới.  Ðại-hội ấy đã đặt nền-tảng cho Tổng-hội Phật-giáo thế-giới đã bầu ra một ban chấp-hành chung cho cả thế-giới Phật-giáo.  Một nội-quy của Tổng-hội đã được biểu-quyết và trụ-sở của văn phòng ban chấp-hành đã được đặt tại Cô-lôm-bô.  Sau đại-hội vài tháng, Bác-sĩ Malalasekera chủ tịch Tổng-hội đã đi thăm các nước Phật-giáo hội-viên, và hai tờ tạp chí Phật-giáo của Tổng-hội được phát hành trên thế-giới là tờ: New Letter và The Buddhist world. 

Từ Ðại-hội đầu tiên ấy đến nay, cứ hai năm lại có một Ðại-hội khác, mà địa điểm tuần-tự thay đổi như sau: 

-           Năm 1952, đại-hội kỳ II, họp tại Tokyo, kinh-đô Nhật-Bản, mà mục-tiêu chính là quyết định thống nhất hoạt-động và các hình thức Phật-giáo trong các nước hội-viên. 

-              Năm 1954, đại-hội kỳ III, họp tại Rango on, kinh-đô Miến-Ðiện, cùng một lần với đạ-hộ kết tập Tam-tạng kinh điển kỳ thứ VI, từ khi Ðức Phật nhập diệt đến nay. 

-             Năm 1956, đại-hội thứ IV họp tại Kathmandu, thủ đổ Népal, nơi Ðức Phật đã giáng sinh.  Nội dung của đại-hội này là khảo luận về văn-hóa Phật-giáo: triết-lý, văn-chương nghệ thuật… 

-             Năm 1958, đại-hội thứ V họp tại Bangkok, kinh-đô Thái-Lan, mà chương trình nghị-sự là duyệt lại bản nội-quy của Tổng-hội. 

-             Năm 1961, đại-hội thứ VI họp tại Nam-Vang, kinh-đô Cam-Bốt.  Trong đại-hội nầy, 21 quyết-nghị đã được chấp thuận, trong ấy có nhiều quyết-nghị rất quan-trọng như vấn đề phát-triển văn-hóa và giáo-lý trong các nước Phật-giáo, thành lập một Học-viện Phật-giáo Á-châu, nhắm mục đích tương trợ, cung cấp tin tức và tài-liệu, huấn luyến cán-bộ các ngành hoạt-động của Phật-giáo, bảo vệ hòa-bình thế-giới và tín-đồ Phật-giáo v.v… 

Ngoài những đại-hội có tánh cách thường-kỳ nói trên, các nước Phật-giáo Á-châu còn thi nhau tổ-chức rất trọng thể và có mời các đại biểu quốc-tế đến dự những lễ kỷ-niệm 2.500 năm Ðức Phật nhập Niết-bàn, như ở Ấn-độ, Nhật-bản, Tích-Lan, Miến-điện v.v… 

V.                PHONG-TRÀO CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO Ở VIỆT-NAM. 

1.     Sự phát-triển của phong-trào ở Nam, Trung, Bắc. 

Noi gương thế-giới, và nhất là Trung-Quốc, một phong trào chấn hưng Phật-giáo đã nổi lên tại Việt-Nam vào khoảng năm 1920.  Lúc đầu chỉ là những cố gắng lẻ-tẻ của một số quí vị Tăng-già lão thành trong nước, mong giữ lại một ít giềng mối của đạo.  Ở Bắc có sư cụ Vĩnh-Nghiêm (Thanh-Hạnh), sư cụ Tế-Các (Phan-Trung-Thứ), sư cụ Bằng-Sở (Dương-Văn-Hiển); ở Trung có ngài Tâm-Tịnh, ngài Huệ-Pháp, ngài Phước-Huệ; ở Nam có ngài Khánh-Hòa, ngài Huệ-Quang, ngài Khánh-Anh, lại có sáng kiến mở trường giảng dạy một số đệ-tử với mục-đích gây giống đạo pháp cho thế-hệ sau.  Ðồng thời, các học-giả có tiếng tăm trong nước như ông Phạm-Quỳnh, cụ Trần-Trọng-Kim… cũng có việt nhiều bài nghiên-cứu về giáo-lý đạo Phật rất có giá-trị. 

Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1931, những cố gắng lẻ-tẻ trên mới kết hợp lại thành lực-lượng có tổ-chức.  Ðầu tiên một hội Phật-học được thành lập tại Saigon lấy tên là Nam-kỳ nghiên-cứu Phật-học; kế đó là hội Lưỡng-Xuyên Phật-học.  Những vị có công khởi xướng lên cái hội nầy là Ngài Khánh-Hòa, Ngài Huệ-Quang, Ngài Khánh-Anh cùng một số quí vị Tăng-già và Cư-sĩ tân tiến.

Năm 1932, ở Trung-kỳ các Ngài Giác-Tiên, Phước-Huệ và một nhóm cư-sĩ tân học mà đứng đầu là đạo hữu Tâm-Minh Lê-Ðình-Thám đã thành lập Phật-học-hội mà hội-quán là chùa Từ-Ðàm. 

Năm 1934, ở Bắc-kỳ có thượng-tọa Tố-Liên, T.T. Trí-Hải, cụ Nguyễn-Năng-Quốc, Trần-Trọng-Kim cùng một số quý vị đại-đức và cư-sĩ lập ra Bắc-kỳ Phật-giáo Tổng-hội. 

Những hội trên đây đều có mục-đích và chương-trình hoạt-động giống nhau:  Chỉnh đốn Thiền-môn, vãn hội quy-giới, đào tạo một thế-hệ thanh-niên tu-sĩ chân chính, hữu học, và hoằng dương chính pháp. 

Ðể đạt được mục-đích trên, các hội đều có mở đạo trường cả.  Ở Bắc, có trường Tăng học ở chùa Quán-sứ, trường Ni ở chùa Bồ-đề; ở Trung có Phật-học-viện, chùa Tây-Thiên và chùa Bảo-Quốc, trường Ni ở chùa Diệu-Ðức; ở Nam có Phật-học-viện Lưỡng-Xuyên (Trà-Vinh), trường Ni ở chùa Vĩnh-Bửu (ở Thơm). 

Ngoài ra, các hội còn xuất bản những tạp chí để hoằng dương Phật-pháp, như tờ Ðuốc-Tuệ ở Bắc, tờ Viên-Âm ở Trung, tờ Pháp-Âm, tờ Từ-bi-âm, Duy-Tâm ở Nam.  Những hội nầy được tín-đồ nhiệt liệt hưởng-ứng và bành-trướng rất mau lẹ, chẳng bao lâu trong mỗi tỉnh trong nước đều có chi nhánh của hội.  Nhờ sự hưởng-ứng ấy mà các hội đã xây dựng thêm cơ sở, mở mang thêm nhiều Phật-học-viện, xuất-bản thêm kinh sách, báo chí. 

Nhưng trong khi phong-trào chấn hưng đang lên, thì trận thế-chiến thứ hai bùng nỗ, và tiếp theo là trận chiến-tranh Việt-Pháp làm gián-đoạn các sự hoạt-động của các hội Phật-học trong nước. 

2.     Tổng-hội Phật-giáo Việt-Nam. 

Ðến năm 1948, mặc dù chiến-tranh Việt-Pháp chưa ngưng tiếng súng, nhưng vì nóng lòng vì Phật-sự và để đem lại cho đồng-bào một niềm an-ủi trong cảnh tang thương chết chóc, do chiến-tranh gây ra, những nhà lãnh đạo Phật-giáo ở trong các vùng bị quân đội Pháp chiếm đóng, tích-cực hoạt-động để chỉnh đốn và phát-triển những cơ sở của các hội đã bị chiến-tranh tàn phá. 

Ở Hà-Nội, các Thượng-tọa Tố-Liên, Trí-HảI với sự giúp đỡ của một nhóm cư-sĩ tận tâm vì đạo, đã làm sống dậy phong trào chấn hưng Phật-giáo và đem lại một sắc thái mới, chú trọng nhiều về các công tác từ-thiện và xã-hội, như lập cô-nhi-viện, tư-thục, các cơ quan từ-thiện cứu trợ nạn nhân chiến-tranh. 

Ở Huế cũng vậy, quí vị Tăng-già và một nhóm cư-sĩ đã hợp tác chặt chẽ để sửa sang lại các ngôi chùa đã bị đỗ nát vì chiến-tranh, đứng lên quy tụ những tín-đồ và hội hữu đã đản mát vì thời cuộc, lập các tỉnh hội, các khuôn hội Phật-học và đặc biệt phát-triển ngành Gia-đình Phật-tử là một tổ-chức giáo-dục thanh, thiếu niên Phật-tử, để làm hậu-thuẩn cho Phật-giáo ngày mai… 

Ở Nam-Việt, các vị Tăng-già và cư-sĩ chung nhau thành lập Hội-Phật-Học Nam-Việt.  Mặc dầu ở trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, các hội nói trên đã phát triển một cách mau lẹ, mạnh-mẽ và được sự tín nhiệm của đồng-bào nói chung, và nhất là giới tín-đồ Phật-tử nói riêng.  Trong khoảng vài năm, các hội ấy đã xây dựng thêm được nhiều Hội-quán, mở nhà in, phòng phát thuốc, thư viện, phát-hanh các cơ quan ngôn luận, kinh sách… 

Ðồng thời với các hội nói trên, các Giáo-hội Tăng-già cùng tuần tự được tổ-chức có quy củ, tập trung được nhiều vị tăng tài, có thực tu thực học; và do đó, đã gây được sự tín nhiệm lớn trong hàng Phật-tử, và lấy lại cái địa-vị và trọng trách lãnh đạo tín đồ mà Ðức Phật đã giao phó. 

Các Hội cư-sĩ và các Giáo-hội Tăng-già đã được chỉnh đốn và có thực lực, ở Bắc, Trung, Nam ba phần, nhưng chưa có co hội thuận tiện để thống nhất ý-chí và hành-động, mặc dù ý niệm thống nhất đã manh-nha từ lâu trong đầu óc những nhà lãnh đạo Phật-giáo. 

Nhưng cái gì phải đến, sẽ đến.  Ngày 6-5-1951 một đại-hội toàn quốc đã được triệu tập tại chùa Từ-Ðàm ở Huế, gồm 51 đại biểu Tăng-già và cư-sĩ của sáu tập đoàn ở ba phần (ba tập đoàn Tăng-già và ba tập đoàn Cư-sĩ) để thành lập “Tổng-hội Phật-giáo Việt-Nam” và bầu ban chấp hành Trung-ương cho Phật-giáo toàn quốc, hay ban “Quản-trị Tổng-hội Phật-giáo Việt-Nam”. 

Hiện nay, Tổng-hội Phật-giáo Việt-Nam là đoàn-thể quan trọng nhất ở Việt-Nam có tổ-chức chặt chẽ hơn hết, theo đúng chân tinh thần của đạo Phật và quy tụ trên một triệu hội viên. 

            Tổng-HộI Phật-giáo Việt-Nam cũng là hội viên sáng-lập của Tổng-hội Phật-giáo thế-giới, thành-lập năm 1950 tại Cô-lôm-bô và đã cử đại-biểu đi tham-dự tất cả các khóa họp của Tổng-hội Phật-giáo thế-giới.  Tổng-hội Phật-giáo Việt-Nam gồm có các ngành hoạt động sau đây:  Hoằng-pháp, Giáo-dục, Văn-mỹ-nghệ, Thanh-niên, Nghi lễ, Từ-thiện xã-hội … (1) 

C.    KẾT-LUẬN: 

Từ thuở đức Từ-phụ nhập Niết-bàn đến nay đã trên 25 thế-kỷ rồi mà mặt trời chánh pháp, mặc dù có đôi khi bị đám mây đen lướt qua, nhưng vẫn chiếu sáng toàn cõi đại-địa.  Riêng Việt-Nam đã được ánh sáng ấy chiếu đến gần 20 thế-kỷ.  Trong lịch-sử Việt-Nam, những giai đoạn Phật-giáo thạnh-hành là quốc-gia được tự chủ, độc-lập và hùng cường.  Ngày nay Phật-giáo Việt-Nam đã được phục hưng, ánh sáng lại rực rỡ thêm.  Ðấy là tin lành báo trước cho dân tộc Việt-Nam. 

Chúng ta tin chắc rằng với cái đà tiến triển như hiện nay, phong trào Phật-giáo thế-giới nói chung, và Phật-giáo Việt-Nam nói riêng sẽ còn dâng cao, bủa rộng hơn nữa.  Chúng ta có đủ lý do để tin tưởng như vậy, vì Phật-giáo không trái với khoa-học ngày nay, mà còn là một nguồn an-ủi, một suối yêu-thương rất cần thiết cho nhân-loại. 

______________ 

(1)   Tập sách này soạn trước khi Giáo-hội Phật-giáo Việt-Nam Thống-nhất ra đời.

 
   TIN TỨC SINH HOẠT
Thư Mời Phật Đản - Phật Lịch 2562

Ngày Phật Đản lại về với toàn thể người con Phật khắp năm châu, lá cờ Phật Giáo tung bay phất phới trên nền trời của mùa Xuân huy hoàng rực rỡ, với muôn hoa đua nở đón chào, ngày Đấng Giác Ngộ ra đời. Ngài đem chân lý nhiệm mầu để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi biển khổ trầm luân. Đưa con người đến chỗ an lạc, xa rời ba nẽo đường đen tối, bỏ tham sân tật đố lầm mê.

 Xem chi tiết 
  Chương Trình Tết Mậu Tuất
  Khóa Tu Mùa Đông 2017
   PHẬT HỌC CĂN BẢN
THOÁT ĐẾN THỰC TẾ

Trong bài diễn văn đọc tại Oslo, khi được trao tặng giải thưởng cao quí về những hoạt động cho hòa bình, bậc vĩ nhân đầy lòng nhân đạo, Bác sĩ Albert Schweitzer nói:

"Chúng ta phải ứng phó thực tế. Con người đã trở thành siêu nhân. Nhờ khoa học và các tiến bộ kỹ

 Xem chi tiết 
  ĐỨC PHẬT VÀ PHÁP GIÁO HOÁ CỦA NGÀI
  Khắc Phục Định Kiến Và Tập Khí Chỉ Lo Nghĩ Cho Bản Thân
   ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

Trước tiên, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của từ đạo đức (Ethico) và các quan niệm tiêu biểu về đạo đức của các vùng văn hóa lớn của nhân loại.

Tự điển Dagobert D.Runes (1970) định nghĩa: "Ðạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người".

 Xem chi tiết 
  Đạo Phật Và Chữ Hiếu
  Lễ Tháng Bảy Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt
   THIỀN HỌC PHẬT GIÁO
SỰ SUY NIỆM CỦA NỘI TÂM

Ngài U Jotika được sinh ra trong một gia đình không thuộc dòng dõi Phật giáo tại Myanmar, và ngài được theo học trong một ngôi trường dòng Thiên Chúa giáo của người La Mã. Ngài đã học ngành kỹ thuật điện tử và đã đọc rất nhiều sách thuộc về khoa học phương Tây, về triết học, và tâm lý học. Ngài đã kết hôn và là cha của 2 người con gái trước khi xuất gia là một tu sĩ. Thay vì thỉnh thoảng viếng thăm gia đình và ở lại Yangoon, thì ngài đã dành trọn thời gian của mình để sống ẩn dật.

 Xem chi tiết 
  Yếu Chỉ kinh Nhất Dạ Hiền
  Pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật (Kinh Pháp Hoa)
   VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Hoài Niệm Hòa Thượng Trí Thủ

Một buổi chiều xuân năm 1958, tôi lên núi Trại Thủy Nha Trang, thăm chùa Hải Đức. Tôi không vào chùa, tôi đi dạo chung quanh chùa nhìn tứ-vọng-cảnh, rồi ra sân xem những chậu hường, lấy giống từ Đà Lạt. Xa xa nơi bìa sân, một nhà sư áo nâu đứng lần chuỗi dưới gốc cây Bồ đề xanh tươi. Những hạt chuỗi đón ánh mặt trời như những vì sao óng ánh, nối nhau mọc rồi lặn, lặn rồi mọc, đều đặn ung dung.
Hồi lâu nhà sư lặng lẽ đi ra sau chùa, lên Viện phật học cất trên hông đồi cao. Lòng tôi lâng lâng, và tôi có cảm giác rằng tôi là nhà sư. Đứng im một chỗ, nhưng tôi tưởng chúng tôi đương bước lên đầu non vừa đi vừa lần chuỗi. Cao hứng tôi sáng tác được một luật ngũ ngôn:

 Xem chi tiết 
  Lời Mẹ Nhắn Nhủ
  Lời Mẹ Ru
   PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
Bát Nhã Tâm Kinh

Phật Học Phổ Thông Khóa thứ XII

 Xem chi tiết 
  10 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
  09 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
   TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
TỨ DIỆU ĐẾ

Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế" (T- Ưng V).

 Xem chi tiết 
  SỰ VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT
  NĂM UẨN

Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712