Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

Bát Quan Trai: Vào ngày Saturday, 4 Tháng 7 Năm 2020 Âm Lịch: Lúc: 10:00am

Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
Sám Hối: Vào ngày:   Saturday 7/4/2020 Âm Lịch:
An Cư Kiết Hạ và Khóa Tu Học 10 ngày từ 7/15 tới 7/25: Vào ngày:   Wednesday 7/15/2020 Âm Lịch:
Sám Hối: Vào ngày:   Monday 7/20/2020 Âm Lịch:


 BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
(Phật Học Phổ Thông Khóa thứ V)

NHÂN-SINH-QUAN PHẬT GIÁO


NHÂN-SINH-QUAN PHẬT-GIÁO 


A.  MỞ ÐỀ  

            Ðã là người, không ai không băn-khoăn tự hỏi mình do đâu mà có?  sự hiện-diện của mình trên cõi đời nầy như thế nào?  hoàn-cảnh của mình sống như thế nào? v.v…  Thật là bao nhiêu vấn-đề, bao nhiêu câu hỏi làm người ta băn-khoăn, thắc mắc, ăn không yên, ngủ không yên. 

            Ðể giải-quyết các vấn-đề trên, các triết-học và tôn-giáo đều có đưa ra những lời giải đáp; những giải đáp hay biện-minh về “vấn-đề sống” ấy, gọi là nhân-sanh-quan. 

            Là một tôn-giáo, có một triết-học rất cao, đạo Phật tất nhiên cũng có dành một phần lớn để nói về nhân-sinh-quan. 

            Nhân-sinh-quan ấy như thế nào?  Ðó là một vấn-đề mà mỗi Phật-tử chúng ta không thể không biết đến được.  Sự hiểu biết này có thể giúp chúng ta nhận chân được những ưu-điểm và khuyết-điểm của con người và giúp chúng ta sắp-đặt cuộc đời và sống một cuộc sống có ý-nghĩa và lợi lạc cho mình và cho xã-hội. 


B.  CHÁNH ÐỀ  

I.  NHÂN-SINH-QUAN DO ÐÂU MÀ CÓ ?  

            Trước tiên, vấn-đề làm chúng ta thắc mắc nhiều nhất là:  Con người do đâu mà có?

            Ðể giải đáp vấn-đề này, đạo Phật có thuyết “mười hai nhân duyên”. 

            Trong mười hai nhân-duyên ấy, vô-minh là căn-bản.  Vô-minh là gì?  Tức là đối với sự lý, không rõ biết được đúng như thật.  Do đó mà sanh ra mê lầm, thật cho là giả, giả cho là thật, điên-đảo hư vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình, người; rồi theo cảnh thuận nghịch mà khởi phiền-não, nên cũng gọi là “hoặc”.  Từ mê-hoặc mà tạo tác ra các nghiệp, hoặc thiện hoặc ác.  Sự tạo tác ấy gọi là “Hành”, chi thứ hai trong mười hai nhân-duyên. 

            Do nghiệp lành dữ huân-tập chứa nhóm thành ra “nghiệp thức”.  Nghiệp thức này theo chỗ huân-tập thuần thục rồi thác sanh vào thai mẹ, đó là món “Thức”, chi thứ ba trong mười hai nhân-duyên. 

            Trong thai mẹ, gom tinh huyết làm nhục thể, tâm thức cùng nhục-thể hòa hiệp gọi là “Danh-sắc” đó là chi thứ tư trong mười hai nhân-duyên. (Danh: Tâm-thức; Sắc: Nhục thể).           

            Từ Danh-sắc lần lần tượng đủ sáu căn, gọi là “Lục-nhập”.  Ðó là chi thứ năm trong mười hai nhân-duyên. 

            Sau khi ra khỏi thai, sáu căn xúc đối với sáu trần, biết nóng, lạnh, đau, êm v.v… nên gọi là “Xúc”, chi thứ sáu trong mưòi hai nhân-duyên. 

            Do sự xúc chạm ấy, mà tâm dần dần sanh niệm phân biệt rồi có những sự giác thọ vui, khổ v.v…  Ðó gọi là “Thọ”, chi thứ bảy trong mười hai nhân-duyên. 

            Do sự cảm thọ vui, khổ, khởi niệm ưa ghét, chấp đắm ấy mà sanh ra có “Ái”, chi thứ tám trong mười hai nhân-duyên. 

            Vì tham ái nên tìm cầu nắm lấy cái hay cái tốt, cái ưa thích.  Ðó gọi là “Thủ”, chi thứ chín trong mười hai nhân-duyên. 

            Muốn cho thỏa-mãn chỗ nhiễm trước, ưa thích của “Ái” và “Thủ”, nên phải tạo nghiệp.  Nghiệp này có thể chiêu cảm quả-báo vị-lai, nên gọi là “Hữu”, chi thứ mười trong mười hai nhân-duyên. 

            Ðã có “Hữu” là cái mầm giống, thì thế nào cũng có “Sanh” là chi thứ mười một trong mười hai nhân-duyên. 

            Ðã có “Sanh” thì phải có “Lão và Tử” là chi thứ mười hai trong mười hai nhân-duyên.

            Trong mười hai nhân-duyên “Vô-minh” thuộc về “hoặc” và “Hành” thuộc “nghiệp.  Ðó là nhơn quá-khứ.  Do nhân quá-khứ ấy mà có năm quả “Khổ” hiện-tại là: Thức, Danh-sắc, Lục-nhập, Xúc và Thọ. 

            Do quả “Khổ” hiện-tại nói trên mà khởi ra “Hoặc” là ái thủ và tạo “Nghiệp” là hữu, để làm nhơn cho quả “Khổ” sau là sanh và lão-tử ở vị-lai. 

            Như thế, từ nhơn quá-khứ, sang quả hiện-tại, và quả hiện-tại, lại làm nhơn cho quả tương-lai, ba đời cứ tiếp xoay vần mãi mãi không dứt, như một bánh xe xoay tròn, lên xuống, xuống lên không dừng nghỉ. 

            Cứ đó mà suy ra thì biết rằng, người chẳng những sống một đời trong hiện-tại này, mà trước kia, về quá-khứ đã trải qua không biết bao nhiêu đời sống rồi.  Và sau nầy, trong vị-lai, cũng sẽ còn vô lượng đời sống nữa.  Người hiện sống đây để rồi chết, mà cái chết lại là cái nhơn làm thành đời sống vị-lai. 

            Như thế, sống, chết nối tiếp theo nhau không bao giờ dứt, như những là sóng, cái này tan đi để hiệp lại một cái khác, không bao giờ hết nếu còn gió.  Con người, nếu gió vô-minh còn thổi, thì dòng sanh mạng còn lưu chuyển, lăn trôi, chìm nổi mãi. 


 

II.  THÂN NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ?  

            Sau khi chúng ta đã biết nguyên-nhân gây tạo ra sự hiện-diện của người trên cõi thế này rồi, một câu hỏi khác hiện đến trong đầu óc chúng ta là: Thân con người như thế nào?  Ðẹp-đẽ hay xấu xa, có thật hay giả, đáng quí hay đáng khinh? 

            Ðể giải đáp vấn-đề này, Ðạo Phật có nhiều thuyết, tuy theo Tiểu-thừa hay Ðại-thừa, tôn phái này hay tôn phái khác.  Những thuyết ấy, mặc dù nhiều, nhưng không trái chống nhau, mà chính là bổ khuyết cho nhau, làm cho vấn-đề được trình bày trong mọi khía cạnh, từ hẹp đến rộng, từ cạn đến sâu, từ ngoài đến trong, từ tướng đến thể, từ biệt tướng đến tổng tướng… 

            Dưới đây chúng tôi xin tuần tự trình bày các quan-niệm ấy từ Nhơn-thừa đến Thiên-thừa, qua Nhị-thừa và cuối cùng đến Ðại-thừa, để quý đọc-giả có một quan-niệm đầy đủ về vấn-đề này. 


            1.  Quan-niệm Nhơn-thừa. 

            Thân người hòa-hợp, do tinh huyết cha mẹ cùng thần-thức, góp bốn chất: Cứng, ướt, nóng, động mà thành.  Chủ-động trong ấy là thức (nghiệp thức).  Bởi nghiệp-thức người nhóm các duyên hội-hợp làm thân người.  Nghiệp-thức ấy có ra do bởi sự gây tạo vì đời trước huân-tập nơi tự-tâm kết thành công-năng có tánh-cách người, có thể cảm đặng thân người.  Như vậy là từ nơi tự-tâm tạo tác hành-nghiệp, các hạnh-nghiệp ấy trở lại huân-tập thành công-năng nghiệp người nơi tự-tâm, cho đến khi công-năng nghiệp-thức ấy thuần-thục, gặp đủ các trợ duyên, chiêu cảm hiện ra có thân người.  Vậy thân-thể không phải tự nhiên không nhân mà có, cũng không phải ai khác làm ra, mà chính do tự-tâm tạo, tự-tâm biến hiện, nên có câu: “Tâm tạo nhứt thế” và câu “Tam giới hữu tình, giai tùng nghiệp hữu”.  Thân thể theo nghiệp nhơn mà có, nghiệp nhơn hữu hạn, nên thân thể có lúc rã rời.  Trong khi thân thể còn, từ nơi tự-tâm tạo tác các hạnh-nghiệp để gây thành công-năng chiêu cảm thân sau, và thân sau này sẽ thành hiện-tại; khi thân trước đã theo nghiệp báo mà tiêu diệt.  Cho nên Phật-giáo đối với sự chết, chỉ là sự xoay biến của nghiệp thức nơi tự-tâm, để thay thân cũ, lấy thân mới. 

            Trong khi mọi người, vì sự hiểu biết cạn hẹp, đã lầm tưởng thân thể hoạt-nhiên sanh, và sau khi chết hoàn toàn tiêu diệt.   

            Chết để thay đổi thân mới, sanh để thế thân cũ, xoay dần nơi vòng chết và sanh, sanh và chết, thay thân cũ lấy thân mới, lấy thân mới để thế thân cũ, như người thay y-phục. 

            Vậy thân thể của người hiện nay, chỉ là một thân trong vô lượng thân.  Người đã thay bỏ không biết bao nhiêu thân về trước, và sau này người cũng sẽ phải thay đổi không biết bao nhiêu thân nữa, nếu không một niệm “hồi quang phản chiếu”. 

            Sự sanh hiện-tại, chỉ là một lần sanh trong vô lượng lần sanh; và sự chết ngày nay cũng chỉ là một phen chết trong vô lượng lần chết. 

            Phật-giáo đối với sự sanh, không tham cầu, vì nó là vô-thường không lâu không bền; đối với sự chết, không sợ hãi, vì nó không phải mất hẳn đi, mà chỉ là sự thay cũ đổi mới.  Không tham cầu, không hãi-sợ, nên Phật-giáo đối với thân thể khác hẳn với thường tình trong đời. 

            Người ta thấy nơi người đã thật hiểu Phật-giáo, khi chết như khi sống, lúc đau như lúc mạnh vẫn an hòa bình-tĩnh. 

            Thân hiện có đây, là cái quả của nghiệp-nhân đã tạo ra từ trước, và thân sẽ có sau này là do sự tạo nghiệp bây giờ, nên người trong Phật-giáo đương thọ-lãnh báo-thân hiện-tại, dầu khổ hay vui đều nhận chịu một cách vui vẻ và nhẫn-nại, vì có kêu cầu chán nản thế nào, cũng không thể làm gì được một khi đã kết quả, mà nhứt là chỉ lo lắng trau-dồi cái nhân, là đều có thể đổi xấu ra tốt, để hưởng lấy quả báo tốt đẹp ở tương lai, tức là tu tập các pháp lành, cùng dẹp trừ tâm niệm hành-vi bạo ác.

             Cõi người thuộc về đường lành, mặc dầu chưa khỏi khổ, nhưng có thể tu tạo nghiệp nhơn để hưởng lấy nhiều hạnh-phúc ở thân người.  Người ta sẽ bảo, hoặc sẽ cảm thấy sự vui thú, sự hạnh-phúc ở nơi người xinh đẹp khoẻ mạnh, đầy đủ tất cả nhu dụng, và sự khổ não sự tai hại ở nơi người xấu-xí, đau yếu, thiếu-thốn các vật dụng. 

            Trong hội nói pháp ở Ta-Kiệt-La Long-Cung, đức Phật đã chỉ cho đại-chúng biết sự sai khác nơi thân thể của mọi loài, chư Thiên thân thể tốt đẹp uy-nghiêm, hàng Bát-bộ sức hùng mạnh mẽ, loài rồng cá thân hình thô bỉ xấu xa, bọn cua trạnh tanh hôi hèn yếu.  Ðều là thân thể, tại sao có tốt xấu khác nhau;  -  Ðó là lúc bình sanh nơi thân, khẩu, ý thi-thố lành hay gây tạo dữ.  Nghiệp lành cảm thân tốt đẹp; nhơn dữ chiêu-cảm quả xấu xa, do tự-tâm tạo rồi tự thọ.  Muốn chúng-sanh được thân thể tốt đẹp khoẻ mạnh, để hưởng hạnh-phúc trong cõi người, trong kinh Thiện-sanh đức Phật cặn-kẻ chỉ dạy cách ăn ở hợp pháp trong gia-đình về nhơn-đạo, lấy năm giới cấm làm căn-bản.  Bất sát sinh để gây tạo thiện nhân, cảm thành quả-thể xinh đẹp khoẻ mạnh sống lâu ở tương-lai.  Không trộm-cắp gian tham để làm thành nghiệp lành, hưởng quả ấm-no đầy đủ cho thân thể tốt đẹp.  Trừ tà-dâm để chiêu cảm thân hình đoan trang, cùng hưởng phúc gia-đình.  Tránh vọng-ngữ để được giọng nói điều hòa, trong trẻo.  Và kiên rượu để khỏi phạm mấy điều trên, cùng gây dựng ở hiện-tại và vị-lai, bộ trí-óc sáng suốt. 


            2.  Quan-niệm Thiên-thừa. 

            Trọn vẹn năm giới cấm, nhân-đạo đã hoàn-thành, đào-tạo chắc chắn nghiệp-chủng người tốt lành nơi tự-tâm, và sau này khi thuần thục sẽ cảm lấy thân-thể loài người tốt đẹp mạnh khỏe, trường thọ, giọng hay, óc sáng, để hưởng hạnh-phúc nơi cõi người.  Trên cõi người còng có các cõi Trời, về thân-thể, mọi phương-diện đều hơn ngời, không như thân người phải thai-sanh nhớp nhúa, khổ sở vì các vị Trời được hóa-sanh.  Thân-thể cực kỳ xinh đẹp, cao lớn giống nhau, các căn đầy đủ, thấy suốt, ghe xa, được thần thông tự-tại theo ý muốn, đồ nhu-dụng tự nhiên có, cho đến khỏi tất cả bịnh tật.  Thân-thể thường khỏe mạnh luôn, vẫn mãi trẻ-trung không già; không như thân người đều không tránh khỏi nổi đau-khổ vì bịnh hoạn, bức bách vì già yếu.  Thân-thể các loài trong thế-gian, chỉ có thân Trời là hơn hết, từ những điều tốt đẹp của thân, nhẫn đến sự thọ dụng. 

            Từ đâu chiêu-cảm được sự thù-thắng ấy?  -  Cũng như đã nói ở trước, tạo nghiệp-nhơn gì thì tự tâm sẽ gìn giữ nghiệp-nhơn ấy, và sẽ chuyển hiện ra quả đúng như vậy. 

            Như vật ngay ở dưới ánh-sáng mặt trời, thì bóng của vật ấy thẳng; trái lại, vật ấy bóng ắt cong, muốn được bóng thắng thỉ phải sữa sang cho vật ấy thật ngay.  Cũng như muốn được hưởng thân Trời, phải vun trồng nghiệp-nhơn Trời.  Phật dạy 10 điều lành gọi là “Thập-thiện-nghiệp” tức là các đức tánh tốt, phát sanh từ thân, khẩu, ý tưởng, thật hành hoàn toàn 10 nghiệp lành.  Tự-tậm trong sạch, thì nghiệp-chủng có công-năng tốt đẹp, sẽ cảm-thọ thân thù-thắng, không bịnh tật, khỏi già nua, trường thọ ở cõi Trời. 

            Ðức Phật chỉ dạy những nguyên-nhân và quả-báo cùng sự tu-hành, để khỏi bị những thân xấu-xa, khổ sở mà được cảm-hiện những thân cường-tráng, vui vẻ tốt tươi của người và Trời; chính là “Nhơn-thừa Phật-giáo” cùng “Thiên-thừa Phật-giáo” đối với thân thể.  


            3.  Quan-niệm Nhị-thừa. 

            a)  Thân bất-tịnh.  

            Lấy con mắt của hàng Nhị-thừa, xem nơi thân-thể, chỉ là một giống nhơ nhớp, do nhiều chất nhơ-uế hòa-hiệp.  Các Ngài chỉ cảm thấy nó là hiện-tượng của muôn điều khổ sở, buộc ràng không có mảy may chi đáng gọi là vui thú, nên có câu “thân vi khổ bổn”.  Và thân-thể là chỗ nhơ, góp tất cả sự nhơ-nhớp, cùng để rồi rã-rời tan-nát, nên có câu “thị thân bất-tịnh, cách nang xú-uế”, và “thị thân vô-thường, tất qui tán diệt”.  Thử nghiệm xem những sự thống-khổ ở trong thế-gian từ đâu mà có?  -  Phải chăng do nơi thân-thể; các sự thống khổ như: lạnh, nóng, đói, khát, mỏi, đau, nghịch trái v.v… đều thuộc về nơi thọ, mà thọ có ra là bởi lục-căn tiếp-xúc với lục-trần, thân-thể là chỗ nương của lục-căn, nên sự khổ thọ lấy thân làm gốc.  Vả lại, người đời không gì khổ bằng: lúc sanh đau đớn kêu la, khi già lụm-cụm run-rẩy, lúc ốm đau yếu-đuối bức-rức, khi chết giãy-giụa hãi-hùng, bổn việc đại khổ ấy, lại là cái khổ sanh trụ, dị, diệt, của thân-thể. 

            Xưa bốn thầy Tỳ-kheo cho ở đời sự sợ-sệt, sự nóng-giận, sự dâm-dục cùng sự đói khát là khổ nhứt.  Ðã bị Phật quở trách vì chưa xét đến thân là gốc của muôn điều khổ.  Không thân thì các sự khổ: sợ, giận, dâm, đói từ đâu mà có.  Thấu-đáo thay cho câu “thân vi khổ bổn” và câu “thân như oan thù”.  Sự nhớp nhơ hôi hám của thân-thể không thể tả xiết.  Người ta không nhớ quá-khứ, không nghĩ đến vị-lai, chỉ dòm nơi hiện-tại và dùng nào là quần áo phủ che, nào là xạ hương xông-ướp để tự làm mê-hồn mình, trước đống hôi tanh bất-tịnh. 

            Thử nhìn đến các chất từ cửu-khiếu (9 lỗ cống) trong thân chảy ra, tự mình cũng đã quá gớm của mình, chưa nói đến với thân của người khác, nên trong kinh có câu “chư khổ lưu bất-tịnh”. 

            Làn da mỏng là một cái đãy mà trong đó chứa đầy những: máu, mủ, thịt, xương, đàm dãi và đại tiểu tiện v.v…  Còn gì ghê-tởm bằng khi một thân người bị lột cả da và bị banh xẻ.  Câu “cách nang xú uế” đã từ miệng Phật thốt ra để cảnh-tỉnh kẻ say đắm.  Thân nhơ nhớp hiện tại từ đâu mà có?  -  Từ ngày trước:  Ðiểm tinh, giọt huyết hòa lẫn trong khi nghiệp-thức vọng-tưởng mê-cuồng với sự giao-hợp của cha mẹ mà kết thành.  Sư nhơ dáy của tinh huyết, sự đáng nhờm của bào thai, thật không bút nào tả hết, cho đến sau này nghiệp-thức đã xa-lìa, thân thể sẽ sanh cứng, sẽ sình-chương, sẽ nứt nỡ ra lần để làm ở cho đám giời tửa, làm chỗ cho ruồi kiến bu đậu, và để tiết ra những chất nhơ nhớp nhứt và hôi tanh nhứt.  Lúc mới kết hợp: vọng-tưởng tinh huyết bất-tịnh; khi to lớn: đàm đạnh, phân đái máu mủ bất-tịnh.  Lúc chết tan rã hôi-tanh bất-tịnh.  Như vậy thân người là một vật bất-tịnh nhứt trong các vật bất-tịnh.  Từ đầu đến cuối, khi mới tượng sanh đến lúc hư mất, thảy đều toàn là bất-tịnh. 

            Trong thân nhơ nhớp bất-tịnh, đáng ghê-tởm nhất ấy, còn có một sự mà nếu thấy hiểu, người ta sẽ không còn ham muốn gì về thân thể.  Từ lúc nào đến lúc nào, bao giờ cũng ráp-ranh đến chỗ tiêu-diệt.  Ðang trẻ trung, thắm-thoát đã già nua.  Từ cái mạnh-mẽ tươi-tắn, không bao lâu đổi thành yếu-đuối, mệt nhọc, nhăn nheo.  Trong khoảng thời-gian ấy, không biết bao nhiêu là sự thay đổi vô-thường.  Thân năm trước không phải là thân năm nay, thân tháng trước không phải là thân tháng tới, thân ngày nay không phải là thân ngày hôm qua, cho đến từng giờ từng phút, từng sát-na cũng đã đổi khác.  Ðã có đổi thay, tất phải có lúc tiêu-diệt, không ai có thể dừng được sự thay đổi nhanh chóng của thân, và không có gì bảo-đảm được cái họa-trạng hấp tấp mà mọi người đều sợ: “cái chết”.  Mạng sống không khác chỉ mành treo chuông, chỉ chực đứt dây là rớt bể, nên có câu: “nhơn mạng hại hô-hấp gian”.  Một hơi thở ra mà không hít vào, tức là đời sống của thân không còn, giờ tan-rã sắp đến.  Than ôi!  Thân là cội khổ, thân là bất-tịnh, thân là vô-thường, có gì đáng sợ, có gì đáng chán bằng thân.  Ở nơi thân không có mảy-mún chi có thể tạm gọi là đáng trìu-mến, đáng thương tiếc! 

            Người tu hạnh Nhị-thừa, quán-sát thấy thân như vậy, nên nhàm chán nơi thân, ghê sợ sanh tử vô-thường, gớm nhờm hôi tanh nhớp-nhúa, do đó nên gấp lo tự lợi, vội mong thoát-ly thân, mà tu các pháp-môn tu siêu-diệt thoát-ly tam-giới.  Có người thấy rõ thân là khổ sở dơ-dáy vô-thường như trên, quá sợ, quá nhờm, bèn vội vàng tìm cách xa lìa mau chóng: “tự-tử”.  Mấy kẻ ấy lầm to.  Họ tự-tử để chóng ra khỏi thân, mà họ không biết rằng chính họ đang bồi đắp cho thân được chắc chắn lâu dài.  Vì thân có ra là do nghiệp-nhơn, thân là quả của nghiệp-nhơn, muốn khỏi quả phải trừ nhơn.  Nay nhơn cứ tạo, cứ gieo mà muốn đừng có quả, quyết hẳn không thể được.  Không khác nào người sợ bóng mình, muốn bóng mình không hiện, mà cứ chạy trong ánh nắng.  Khi Phật còn tại thế đã có một người có ý-tưởng sai-lầm này, đó là ông Phước-Tăng Tỳ-kheo, ghét thân già yếu đau khổ, toan thoát khỏi thân bằng cách treo cổ trên bờ suối, bèn bị Ngài Mục-Kiền-Lien quở trách là khờ dại, cùng giải-bày chánh-lý cho nghe.  Sợ già, đau, sống, chết mà vội quyên-sinh, thật là trở lại gây tạo sự già đau sống chết.  Người ta có thể dứt bỏ thân hiện-tại, song không thể rời bỏ muôn ngàn thân sẽ có ở vị-lại, khi nghiệp-hoặc hãy còn.  Nghiệp-hoặc còn thì khi thân này hư, tất lại tạo thành thân khác, có thân khác tất phải có già, đau, sống, chết, khổ-sở.  Như vậy, muốn thoát hẳn khổ-lụy vì thân thể, phải đoạn trừ cội gốc hiện ra thân, tức là phải dứt hoặc-chướng cùng nghiệp-nhơn. 

            b)  Thân giả-hợp.  

            Cái gốc “hoặc nghiệp” đã trừ, thì cái ngọn là “thân” tức nhiên phải khô mục.  Nhơn đã không còn thì quả cũng tự mất.  Thân sau không còn chiêu-cảm thì các khổ lụy không nương đâu mà có, tức là an vui giải-thoát.  Dứt được nghiệp-hoặc thì vô-lậu huệ sanh, thành bực Nhị-thừa Thánh-nhơn.  Ðến đây thân thể đối với các bực nầy không còn thiệt thân thể, mà chỉ là sự kết cấu của ngũ-ấm, hay thập nhị xứ.  Trong khi người thường nhân là thiệt có thân-thể, có đầu mặt tay chân, có hình dung động tác, mà với huệ chứng của các Ngài thấy là sắc, là thọ, cho đến là thức; hay thấy là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; là: nhãn, tỹ, thiệt, thân, ý; mỗi món có phần vị riêng, không có cái gì có thể gọi là thân-thể?  Khác nào như ở xa thấy một cụm rừng liên-lạc um-tùm, mà khi đến gần kề, thì chỉ thấy cây-cối rời-rạc, thể của rừng không còn là thật.  Cảnh giới ấy đối với người chưa chứng đến, thật khó nhận hiểu, thân chỉ không thiệt có, nó có chỉ là có với nghiệp thức của chúng ta thôi.  Nó đẹp, nói đáng ưa, cũng chỉ là phù hợp với tình vọng ô-nhiễm, xinh đẹp đối người người, chưa chắc hẳn xinh đẹp với loài khác.  Nàng Tây-Thi người đời ca-tụng là đẹp, là đáng yêu, mà chim gặp chim sợ bay xa, cá thấy cá sợ lẫn trốn.  Nếu thân nàng Tây-Thi chắc thiệt đẹp đáng yêu, thì sao chim cá lại sợ hãi?  Phải chăng sự đẹp ấy, chỉ là do đồng nghiệp của loài người.  Cho đến thân thể hình dáng tác dụng, chỉ có với con mắt thường của người.  Một mỹ-nhân cực kỳ lộng lẫy, nếu ta dùng quang-tuyến mà xem, thì mỹ-nhân không còn, mà chỉ hiển-hiện là bộ xương hồng trắng, và nếu ta dùng kính chiếu-đại gấp trên ngàn lần, thì ta chỉ thấy đó là một đống da thịt rời rạc, cách nhau từng khoảng.  Nếu mọi người đều mang con mắt quang-tuyến, cùng kính chiếu-đại gấp trên ngàn lần, thì thử hỏi giữa đây, còn có cái gì thiệt là thân như trước. 

            Huệ-nhãn của các vị Nhị-thừa Thánh-nhơn cũng thế.  Ðối với người thường là thân thể xinh đẹp, với các Ngài thì thân-thể còn không có, huống nữa là xinh đẹp.  Chẳng phải là duyên cảnh khác, mà chỗ thấy biết có sai khác.  Cũng đồng một cảnh, song vì trí-thức khác nhau, nên chỗ nhận thấy thành không đồng.  Do không còn thấy là thật có thân thể, nên các Ngài không còn sanh lòng luyến ái nơi thân, không còn có niệm: thân mình, thân người, vì tất cả đều đồng là ngũ-ấm, là lục-căn, lục-trần; dưới huệ-nhãn của các Ngài, và hơn nữa đều đồng là tứ đại giả hợp: da, thịt, xương, tóc, móng toàn là địa đại; tinh, huyết, đàm, nhớt, nước mắt, mồ hôi, toàn về thủy đại; nhiệt độ thuộc về hỏa đại; cùng sự chuyển động thuộc về phong đại.  Tứ đại nếu trái nhau, thì thân thể làm sao đặng có.  Rõ biết thân thể là hư vọng, thì cả thảy phiền-não tự trừ, vì thân là căn-bản của ái-nhiễm khi bấy giờ vô-ngã-trí phát-sinh, vĩnh-viễn thoát-ly sanh-tử trong ba cõi, tức là rốt ráo được Nhị-thừa Phật-giáo.


            4.  Quan-niệm Ðại-thừa. 

            a)  Thân như huyễn hóa.  

            Mở rộng tầm quan-niệm, thân thể đối với hàng tu quán Ðại-thừa, là một giả pháp do sự kết-cấu của sắc tâm và không rời ngoài thức.  Do danh-ngôn, ngã chấp, hữu-chi ba món huân-tập nơi tự-thức tạo thành danh và sắc công-năng, khi đủ duyên bèn chuyển hiện, thành thân thể, rồi bám lấy sắc thân làm tự-thể sanh giác-thọ, cùng với thân đồng an đồng nguy; khi thức không còn chấp trì, thì thân hoại diệt.  Thân không tự có, do thức chuyển biến mà có, thân không tự-thể, lấy thức làm thể, toàn thân là thức, ngoài thức không thân.  Thân có là do thức công năng biến hiện, công năng hiện thành thân, bởi các nghiệp duyên huân tập nơi thức mà thành.  Nghiệp-duyên có ra, lại nương nơi thân mà phát khởi, nên thân thể là pháp hư-giả, do thức biến-hiện.  Song từ nơi thân thể tạo nghiệp nhiễm hay tịnh, làm duyên huân-tập nơi tự-tâm, khiến tự-tâm chuyển thành công năng nhiễm hay tịnh.  Thân thể cùng công năng xoay chuyển làm nhơn duyên cho nhau, có không phải thiệt có, không không phải thiệt không, thật đồng chuyển hóa.  Vì đó nên với quán-trí của Ðại-thừa thì thân thể như huyễn hiện.  Bởi như huyễn thật có, nên không sa vào lỗi tăng ích của phàm-phu, cùng lỗi vọng chấp thường còn của ngoại-đạo.  Bởi như huyễn, giả có chẳng phải không hẳn, nên khỏi bị lỗi tổn giảm của Nhị-thừa và chấp đoạn diệt của tà-giáo. 

            Bồ-Tát nương nơi huyễn thân, , tu như huyễn pháp môn, dứt huyễn ái-kiến, độ huyễn hữu-tình, chứng huyễn Thánh-quả.  Do thấy thân như huyễn hóa, toàn hư vọng, không còn ái trược nơi thân, nên phiền-não không sanh.  Không ái trước nơi thân, thì khỏi vì thân mà phải thối thất đạo hạnh.  Thọ vô-lượng thân, tu-hành trải qua vô-lượng kiếp, mà với Bồ-Tát, không có một mảy may niệm tưởng là có thọ thân, cùng có xả thân. 

            Mấy niệm còn không, huống gì có kiếp số, nên có câu: “Thọ thị khổ… kiếp số phi kiếp số”.  Vì thân tùy duyên như huyễn sanh, sanh tức vô sanh; thân tùy duyên như huyễn diệt, diệt tức vô diệt, nên có câu: “Chúng duyên giả hiệp, hư vọng danh sanh, chúng duyên ly tán, hư vọng danh diệt”.  Không sanh không diệt tức là “thật tướng”.  Cổ đức có câu: “Huyễn thân bổn tự không tịch, sanh du như cảnh hình tượng – Giác liễu nhứt thế không, huyễn thân tu du chứng thật tướng”.  Ðó là từ nơi thân, quán “giả” nhập “không”, chứng “trung-đạo”. 

            b)  Thân mình và vũ-trụ là một.  

            Thêm lên một từng nữa, Bồ-Tát quán thân mình tức là toàn thể vũ-trụ, là toàn thể chúng-sanh.  Vì sao?  -  Tất cả các pháp đều đắp đổi làm duyên, đối đãi với nhau.  Một pháp nầy có ra, là do đối đài với các pháp kia, các pháp kia có ra, là do đối đãi với pháp nầy.  Thân thể hiện có, là nhờ vũ-trụ đối đãi làm duyên, vũ-trụ trở lại do sự đối đãi của thân thể mà có.  Duyên nơi vũ-trụ mà có thân thể, thì thân thể là vũ-trụ.  Duyên nơi thân-thể mà có vũ-trụ, thì vũ-trụ là thân-thể.  Vũ-trụ và thân-thể không hai không khác.  Thân mình là toàn thể vũ-trụ, thân người cũng toàn thể vũ-trụ.  Cho đến thân của của tất cả hữu-tình, cũng đều là thân-thể vũ-trụ.  Toàn thể vũ-trụ là thân mình, mà toàn thể vũ-trụ cũng là thân của tất cả hữu-tình, nên thân mình cũng là toàn thể thân của tất cả hữu-tình, và thân hữu-tình là toàn thể thân mình.  Vũ-trụ thể-tánh viên-mãn, thì thân mình, và thân tất cả hữu-tình, thể-tánh cũng đều viên-mãn. 


III.  THÂN PHẬN CỦA CON NGƯỜI ÐÁNG CHÁN HAY KHÔNG ÐÁNG CHÁN ?           

            1.  Hoàn-cảnh và địa-vị của con người trong vũ-trụ như thế nào ?  

            Như trong phần vũ-trụ-quan đã có nói, thế-giới có chia ra ba từng bậc là: Dục-giới, Sắc-giới và Vô-sắc-giới.  Sống trong Dục-giới là những sanh vật còn bị lòng dục sai sử, điều khiển, như thực dục, dâm dục.  Những loài sống trong Dục-giới là: súc-sinh, ngạ-quỷ, địa-ngục, A-tu-la, người và chư thiên. 

            Như thế là người cũng sống cùng một cảnh giới với các loài vừa kể trên.  Vẫn biết trong sáu loài ấy thì địa-vị con người được xếp vào hạng nhì, nhưng dù sao thì cũng là sống trong một hoàn-cảnh không sáng sủa gì, vì hoàn-cảnh mà chủ-tể là lòng Dục.  Cho nên Phật thường dạy: “Nước mắt chúng-sanh nhiều hơn bốn biển”, là thế !  Lòng dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật-chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ái-ân…  Nói tóm lại là thèm muốn được thỏa-mãn những khoái lạc về ngũ-quan.  Nhưng đâu đã hết !  Con người còn ham muốn được thỏa-mãn những nhu-cầu về tinh-thần: ham muốn chiếm đoạt, ham muốn chế ngự, ham muốn phô-trương… nghĩa là tham danh tham lợi. 

            Nhưng nếu tham mà được thỏa-mãn tất cả, thì cũng đở khổ.  Ở đây, trái lại, lòng dục không bao giờ được thỏa-mãn cả.  May ra thì có thể thỏa-mãn tạm thời trong chốc lát.  Và như thế lại càng nguy-hiểm, vì chẳng khác gì người khát mà uống nước mặn, càng uống càng khát. 

            Loài người bị trói buộc vào lòng dục, như con ngựa bị buộc vào cổ xe, cứ phải kéo chạy mãi, không bao giờ được yên nghỉ. 

            Hơn nữa, lòng dục ấy cũng chính là cái mầm xung-đột giữa loài này với loài khác: ai cũng mong được thỏa-mãn lòng dục của mình, cho nên sanh ra vị kỷ, làm khổ cho người khác và loài khác để mình được vui.  Do đó, mà mỗi chúng-sanh là một kẻ địch-thủ của mọi chúng-sanh khác, và cõi đời này là một bãi chiến-trường, mà trong mỗi phút giây, có không biết bao nhiêu là chiến-sĩ bị ngã gục.  Do đó cõi chiến-trường ấy cũng là một bãi tha-ma rộng lớn vô cùng.  Theo Phật dạy thì đó là một biển khổ mênh-mông ! 

Biển khổ mênh-mông sóng lụt trời,

Khách-trần chèo một chiếc thuyền trôi,

Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió ?

Xét lại, cùng trong biển thảm thôi ! 

            2.  Tánh-chất vô-thường và vô-ngã của con người. 

            Con người khổ vì lòng dục, con người còn khổ hơn nữa vì hai tánh-chất căn-bản sau đây: 

            a)  Vô-thường.  

            Mọi vật ở đời không đứng yên một chỗ, mà biến-chuyển di-động luôn luôn trong từng sát-na, sát-na.  Thân phút trước, không phải là thân phút sau.  Cứ trong mỗi phút giây, bao nhiêu triệu tế-bào trong người đang chết và bị thay-thế.  Con người thì tham được sống, mà con người cứ bị kéo dần về cõi chết.  Càng muốn được sống chừng nào, lại càng sợ chết chừng ấy.  Sự biến-chuyển mau lẹ, từ thanh mi đến bạch phát, chẳng khác gì một giấc chiêm-bao ! 

            b)  Vô-ngã.  

            Con người cũng như mọi vật, sở-dĩ có là do nhân-duyên hòa-hợp.  Con người chỉ là một cái tên, là một giả danh để gọi cái hội hợp của năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.  Khi đủ nhân-duyên, chúng nó tập-hợp lại thì gọi là sống, khi nó tan ra thì là chết.  Trong năm uẩn ấy, có cái gì là chủ-tể, thuần nhất đâu?  Vả lại, ngay năm uẩn ấy cũng không có cái nào là thuần nhất, mà cũng lại do sự tập hợp của lục-đại. 

            Không thường mà tưởng là thường, không ngã mà tưởng là có ngã.  Ðó cũng tức là cái mê-mờ lớn nhất của con người.  Và cũng chính do cái mê-mờ ấy mà con người đã đau khổ lại càng đau khổ thêm. 

            3.  Khả-năng của con người.  

            Xét như trên, thì thân-phận con người thật là đáng chán.  Vậy thì chúng ta đành thất-vọng, buông xuôi tay mà than khóc để chờ chết hay sao?  Ta còn niềm tin-tưởng gì ở con người nữa chăng?

            Tất nhiên là có!  Phật dạy: “chúng-sanh đều có khả-năng thành Phật”.  Nói một cách khác, con người, mặc dù sống trong đau khổ, nhưng đều có Phật-tánh.  Với cái Phật-tánh ấy, con người có thể thoát ra khỏi hoàn-cảnh tối-tăm của mình.  Ðể thoát ra khỏi hoàn-cảnh ấy, con người không cần phải quỳ-lụy, cầu xin ở một đấng nào khác, mà do tự-lực và hành-động của mình.  Chỉ có mình mới tự giải-thoát cho chính mình được mà thôi.  Con người, chính là vị sáng-tạo của đời mình.  Khi mê thì con người tự làm cho mình đau khổ, nhưng khi biết mình mê mà tìm cách thoát ra khỏi cảnh mê, thì con người chính là kẻ tự gây dựng hạnh-phúc cho mình. 

            Ðó là ưu điểm của con người, đó cũng là niềm tin-tưởng lớn của con người.  Ðứng về một phương-diện, thì thân-thể con người thật đáng chán.  Nhưng đứng về một phương-diện khác, thì con người thật đáng phấn-khởi ! 

            Cho nên bảo rằng nhân-sinh-quan của đạo Phật là bi-quan cũng không đúng hẳn, mà bảo rằng lạc-quan cũng không đúng hẳn.  Lạc-quan hay bi-quan còn tùy ở phương-diện quan-sát của mình. 


C.  KẾT LUẬN  

            Rút những nhận-xét trên, chúng ta có thể kết luận rằng:  Khi trong mê, thì thân phận con người thật là bi-đát.  Nhưng khi bắt đầu nhận được mình mê, thì con người có thể hoán-cải được hoàn-cảnh và cuộc sống của mình 

            Nhưng làm thế nào để hoán-cải?  Làm thế nào để chuyển mê thành ngộ?  Làm thế nào để chuyển khổ thành vui?  May thay!  giáo-lý của đức Phật có đấy, người chỉ dẫn phương-pháp chuyển mê thành ngộ, chuyển khổ thành vui còn đó. 

            Chúng ta chỉ còn gia-công tu-tập, thì thế nào cũng chuyển đổi được hoàn-cảnh buồn thảm của chúng ta.  Cho nên đức Phật thường dạy: “Cảnh Ta-bà này cũng tức là cảnh Phật.  Người cũng là Phật”.

An Cư Kiết Hạ & Khóa Tu Học 2 tuần



Xem chi tiết...

   TIN TỨC SINH HOẠT
Tâm Thư về bệnh dịch Corona Virus (COVID-19)

 Xem chi tiết 
  Tâm Thư về bệnh dịch Corona Virus (COVID-19)
  Khóa Tu Mùa Đông Cho Tuổi Trẻ
   PHẬT HỌC CĂN BẢN
THOÁT ĐẾN THỰC TẾ

Trong bài diễn văn đọc tại Oslo, khi được trao tặng giải thưởng cao quí về những hoạt động cho hòa bình, bậc vĩ nhân đầy lòng nhân đạo, Bác sĩ Albert Schweitzer nói:

"Chúng ta phải ứng phó thực tế. Con người đã trở thành siêu nhân. Nhờ khoa học và các tiến bộ kỹ

 Xem chi tiết 
  ĐỨC PHẬT VÀ PHÁP GIÁO HOÁ CỦA NGÀI
  Khắc Phục Định Kiến Và Tập Khí Chỉ Lo Nghĩ Cho Bản Thân
   ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

Trước tiên, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của từ đạo đức (Ethico) và các quan niệm tiêu biểu về đạo đức của các vùng văn hóa lớn của nhân loại.

Tự điển Dagobert D.Runes (1970) định nghĩa: "Ðạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người".

 Xem chi tiết 
  Đạo Phật Và Chữ Hiếu
  Lễ Tháng Bảy Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt
   THIỀN HỌC PHẬT GIÁO
SỰ SUY NIỆM CỦA NỘI TÂM

Ngài U Jotika được sinh ra trong một gia đình không thuộc dòng dõi Phật giáo tại Myanmar, và ngài được theo học trong một ngôi trường dòng Thiên Chúa giáo của người La Mã. Ngài đã học ngành kỹ thuật điện tử và đã đọc rất nhiều sách thuộc về khoa học phương Tây, về triết học, và tâm lý học. Ngài đã kết hôn và là cha của 2 người con gái trước khi xuất gia là một tu sĩ. Thay vì thỉnh thoảng viếng thăm gia đình và ở lại Yangoon, thì ngài đã dành trọn thời gian của mình để sống ẩn dật.

 Xem chi tiết 
  Yếu Chỉ kinh Nhất Dạ Hiền
  Pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật (Kinh Pháp Hoa)
   VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Hoài Niệm Hòa Thượng Trí Thủ

Một buổi chiều xuân năm 1958, tôi lên núi Trại Thủy Nha Trang, thăm chùa Hải Đức. Tôi không vào chùa, tôi đi dạo chung quanh chùa nhìn tứ-vọng-cảnh, rồi ra sân xem những chậu hường, lấy giống từ Đà Lạt. Xa xa nơi bìa sân, một nhà sư áo nâu đứng lần chuỗi dưới gốc cây Bồ đề xanh tươi. Những hạt chuỗi đón ánh mặt trời như những vì sao óng ánh, nối nhau mọc rồi lặn, lặn rồi mọc, đều đặn ung dung.
Hồi lâu nhà sư lặng lẽ đi ra sau chùa, lên Viện phật học cất trên hông đồi cao. Lòng tôi lâng lâng, và tôi có cảm giác rằng tôi là nhà sư. Đứng im một chỗ, nhưng tôi tưởng chúng tôi đương bước lên đầu non vừa đi vừa lần chuỗi. Cao hứng tôi sáng tác được một luật ngũ ngôn:

 Xem chi tiết 
  Lời Mẹ Nhắn Nhủ
  Lời Mẹ Ru
   PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
Bát Nhã Tâm Kinh

Phật Học Phổ Thông Khóa thứ XII

 Xem chi tiết 
  10 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
  09 - Phần Chánh Tôn (Tiếp Theo)
   TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
TỨ DIỆU ĐẾ

Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế" (T- Ưng V).

 Xem chi tiết 
  SỰ VĨ ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT
  NĂM UẨN

Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712