Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

Sám Hối: Vào ngày Thursday, 8 Tháng 6 Năm 2017 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm

Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
Bát Quan Trai: Vào ngày:   Saturday 6/17/2017 Âm Lịch:
Sám Hối: Vào ngày:   Friday 6/23/2017 Âm Lịch:
Sám Hối: Vào ngày:   Friday 7/7/2017 Âm Lịch:


 BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
(Phật Học Phổ Thông Khóa thứ V )

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM (TIẾP THEO)


LỊCH-SỬ PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM

 (Từ Nhà Trần đến các vị Vua đầu Nhà Nguyễn) 

V.                PHẬT-GIÁO DƯỚI ÐỜI NHÀ TRẦN (1225-1400) 

1.  Tình hình chung của Phật-giáo dưới đời nhà Trần.

Nhà Trần nối nghiệp nhà Lý, thừa hưởng, về mọi phương diện, một di-sản quý báu mà nhà Lý đã xây dựng trên hai thế-kỷ.  Riêng về Phật-giáo, mặc dù về cuối đời nhà Lý, triều đình gặp nhiều vụ nội biến và trong phái thiền môn, ít có được những vị cao-tăng đại-đức như ở đầu đời Lý, nhưng trong dân chúng, đạo Phật đã được thấm nhuần xâu xa, đâu đâu cũng có chùa, có tượng Phật để tín đồ sùng bái.  Bước sang đầu đời nhà Trần, có nhiều lý do khiến chúng ta tin tưởng rằng đạo Phật sẽ được phát triển mạnh thêm, nhất là các vị vua đầu nhà Trần là những vị vua thông hiểu và sùng mộ Phật-giáo còn hơn cả những vị vua đầu nhà Lý.  Thế mà Ðạo Phật trong đời nhà Trần, chỉ thịnh phát trong khoảng 50 năm đầu, rồi dừng lại và thoái bộ mãi.  Hai lý do làm cho đạo Phật không thể tiến phát được là, ở bên ngoài, sự cạnh tranh ráo riết, có nhiều khi là cả một sự đàn áp của Khổng-Giáo; và ở bên trong, giáo lý đạo Phật dần dần bị xen lẫn mê tín, dị đoan của những tà giáo, ngoại đạo mà các vua chúa ở cuối đời nhà Trần rất sùng mộ.  Vì những sự mê tín, dị đoan này, Ðạo Phật trước con mắt những nhà thức-giả, nhất là phía Khổng-Giáo, trở thành một cái đạo vô bổ, nguy hiểm cho đời sống quốc-gia.  Các nhà Nho đua nhau công kích Phật-giáo.  Triều đình mở những kỳ khảo hạch tăng sĩ về những giáo lý thông thường.  Những vị sư nào thi hỏng thì phải hoàn tục.  Những người thi đỗ thì được bổ làm các chứ Tri-cung (coi việc các cung), Tri-quan (coi việc các đền), Tri-tự (coi việc các chùa).  Thật là một hiện tượng suy đồi rõ rệt: các tăng-sĩ phải đi thì để giữ chức coi việc cúng bái ở cung vua và các đền miếu.  Mỉa mai cay độc hơn nữa, là trong đời vua Phế-đế (1382) tăng-chúng của đạo Từ-Bi lại bị triệu tập làm thành một đạo binh dưới sự thống lĩnh của một vị thiền-sư để đi đánh giặc Chiêm-Thành ! 

2.      Những vị vua nhà Trần có công đối với sự truyền bá Phật-pháp. 

Như đoạn trên đã nói, trong đầu đời nhà Trần, có nhiều vị vua rất sùng mộ Phật-pháp và đã có công lớn đối với sự truyền bá đạo Phật trong nước.     

a)     Vua Trần-Thái-Tôn (1225-1258) 

Trần-Nhân-Tôn tên húy là Trần-Cảnh, chồng bà Lý-Chiêu-Hoàng.  Sau khi được vợ nhường ngôi, Trần-Nhân-Tôn trở thành vị vua khai nguyên đời Trần.  Ngài là một vị quốc vương hiểu đạo rất sâu xa.  Khi mới lên ngôi, Ngài đã lo việc truyền bá đạo Phật bằng cách lập chùa, đúc chuông và hộ trì Phật, Pháp, Tăng.  Ngài lại còn soạn được hai tập sách rất có giá-trị và gây ảnh hưởng quí báu cho việc truyền bá Phật-pháp thời bấy giờ, là quyển: “Thiền Tôn chỉ Nam” và quyển “Khóa-hư”.  Tập Thiền-Tôn chỉ Nam nói rõ về đạo lý tu thiền; còn tập Khoá-hư giải rõ hành tướng của cái khổ: sanh, lão, bệnh, tử.  Hai tập ấy, ngày nay vẫn còn lưu truyền. 

b)     Vua Trần-Nhân-Tôn (1278-1293)

Trần-Nhân-Tôn là vị vua thứ ba đời Trần.  Sau khi đã đánh bại quân Mông-Cổ một cách oai-hùng, Ngài truyền ngôi lại cho con và vào tu ở núi Yên-tử.  Ngài thường đi khắp đó đây để bài trừ những hình-thức mê-tín dị-đoan trong dân-gian, thiết lập tu-viện, thuyết-pháp độ-sanh, mở rộng những trạm phát thuốc để cứu giúp người tật bệnh.  Sau ngài truyền pháp lại cho Tôn-giả Pháp-Loa và tịch ở am Ngọa-Vân trong lúc đang đi du hóa.  Ngài chính là sơ tổ phái Trúc-Lâm. 

c)     Vua Trần-Anh-Tôn (1293-1314) 

Trần-Anh-Tôn là vị vua thứ tư của nhà Trần, kế vị vua Trần-Nhân-Tôn.  Ngài là đệ-tử của Pháp-Loa tôn-sư, nên rất tinh thông về Phật-pháp.  Noi gương phụ-vương là Trần-Nhân-Tôn, Ngài đã hăng hái truyền bá Phật-giáo trong nước. 

Sau khi thỉnh được đại tạng kinh ở Trung-Hoa về, Ngài sắc in thành nhiều bản và phát cho nhân dân, trong dịp xuất-gia của Thái-thượng-hoàng Trần-Nhân-Tôn.  Ngài lại còn truyền thiết những đàn-tràng lớn để hành lễ và phát chẩn cho dân nghèo. 

Tuy vậy, đến đời Anh-Tôn, đạo Phật không còn giữ được cái sắc-thái rực-rỡ như đầu đời Trần nữa.  Sau đời vua này, các vị vua kế vị tuy vẫn là những Phật-tử, nhưng không còn được lòng tin sáng suốt và thuần túy nữa.  Ngoại đạo, tà giáo từ Trung-Hoa truyền sang đã xen lẫn trong niềm tin của họ. 

3.  Phái Trúc-Lâm Yên-Tử và các vị Tổ trong phái ấy. 

Trong đời Trần, các vị danh tăng không được đông đảo như ở đời Lý; tuy thế, trong đời này Phật-giáo Việt-Nam cũng đã phát triển được một tôn phái mới là Trúc-Lâm, phát tích từ núi Yên-Tử, và các vị Tổ trong phái này cũng là những bậc cao tăng mà đời sau không thể không nhớ được, mỗi khi nói đến đạo Phật về đời Trần.  Sau đây, chúng ta hãy tìm hiểu qua tiểu-sử và sự nghiệp của các vị ấy: 

a)     Tuệ-Trung Thượng-Sĩ

Ngài húy là Trần-Quốc-Tảng, con trai của Hưng-Ðạo-Vương Trần-Quốc-Tuấn.  Khi Giác-nguyên (Mông-cổ) hai lần sang chiếm nước ta, Ngài theo Hưng-Ðạo-Vương đi chống giặc, lập được nhiều chiến công và được phong đến chức Tiết-độ-sứ.  Ngài có lòng mộ đạo từ nhỏ, nhưng vì gặp lúc quốc biến, Ngài phải ra tay phò vua, giúp nước.  Khi giặc yên, Ngài xin từ chức lui về phong ấp là Vạn-niên-hương, chuyên tâm học đạo với Tiêu-Giáo thiền-sư, là một đệ-tử cuối cùng của phái Vô-Ngôn-Thông. 

Khi ngộ đạo, Ngài thường lập đàn giảng đạo, các môn đệ thiền tín đến dự thính rất đông.

Vua Thánh-Tôn rất kính trọng Ngài, tứ hiệu Ngài là “Tuệ-Trung Thượng-Sĩ” và ký thác vua Trần-Nhân-Tôn cho Ngài.  Ngài hết lòng dạy bảo Nhân-Tôn về phần đạo lý và sau này Nhân-Tôn lập ra phái Trúc-Lâm và trở thành đệ nhất Tổ của phái này, cũng là nhờ ảnh-hưởng tinh-thần của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ. 

Khi gần hóa, Ngài khiến người ta kê ghế giữa căn nhà trống, ngồi tựa vào ghế mà tịch.  Các nàng hầu khóc lên, ngài liền mở mắt ra quở rằng: 

-         Sanh tử lẽ thường, có gì đáng thương xót mà làm nhiễu tâm hồn ta như thế ? 

Các nàng hầu phải im bặt; Ngài lại nhắm mắt mà tịch.  Ngài thọ 62 tuổi. 

b)     Trần-Nhân-Tôn, đệ nhất tổ của phái Trúc-Lâm Yên-Tử (đã nói ở đoạn trên rồi). 

c)     Pháp-Loa tôn sư, vị tổ thứ hai của phái Trúc-Lâm. 

Ngài họ Ðồng, người làng Cửu-La, phủ Nam-sách (nay thuộc tỉnh HảI-Dương).  Ngài thiên tư đỉnh ngộ, năm 21 tuổi gặp ngài Ðiều-Ngự (tức là vua Nhân-Tôn) khen là có pháp nhãn, và được thâu làm đệ-tử.  Ngài ngộ đạo rất sớm.  Năm 25 tuổi Ngài phụng mệnh làm lễ khai-giảng ở chùa Siêu-Loại, có vua và đình-thần đến dự; sau buổI khai-giảng ấy, ngài Ðiều-Ngự phong cho ngài làm chủ sơn môn Yên-Tử và đem kinh điển hơn hai trăm bộ giao phó cho Ngài. 

Ngài phụng chiếu định chức cho các tăng-đồ và quản-lãnh tăng-chúng.  Tăng-đồ có sổ sách rõ ràng là bắt đầu từ đó.  Trong một đời, ngài đúc được 1.300 tượng Phật, dựng hai đài giảng đạo, năm ngôi tháp, hai trăm sở tăng đường, độ cho hơn 15.000 tăng ni, trong số ấy có 3.000 ngườI được đắc pháp.  Ngoài ra, Ngài còn soạn hai tập “Ðoạn sách lục”, và “Tham-thiền yếu chỉ”, nay còn lưu truyền.  Công nghiệp lớn lao như thế, nhưng tiếc thay đời Ngài lại rất ngắn ngủi: 47 năm. 

d)     Huyền-Quang tôn sư, vị tổ thứ ba của phái Trúc-Lâm. 

Ngài họ Lý, người làng Vạn-Tài (thuộc tỉnh Bắc-Giang bây giờ), cha là Tuệ-Tổ, có công đánh Chiêm-Thành, nhưng không chịu ra làm quan.  Ngài, hình dung kỳ dị, nhưng bẩm tánh thông minh, đỗ Trạng-nguyên vào lúc 20 tuổi.  Trước khi thi đỗ, mẹ Ngài đi hỏi vợ cho Ngài, nhưng đến đâu cũng bị từ chối, vì hình dung kỳ dị của Ngài, và sự nghèo hèn của gia đình Ngài.  Nhưng khi Ngài thi đỗ, các nhà phú quý tranh nhau gọi gã con gái, và vua cũng đòi gã công-chúa cho, nhưng Ngài đều từ chối.  Do đó, người đời có câu ca-dao: 

“Khó khăn thì chẳng ai nhìn

Ðến khi đỗ Trạng, tám nghìn nhân duyên” 

            Vì thấy nhân tình thế-thái như thế, nên mặc dù làm quan lớn và được đi sứ sang Trung-Hoa, Ngài vẫn không lấy thế làm mãn nguyện.  Một hôm, nhân đi theo vua Anh-Tôn nghe Pháp-Loa tôn sư thuyết-pháp, Ngài liền giác-ngộ dâng biểu xin từ chức, rồi xuất-gia thọ giáo với ngài Pháp-Loa. 

            Sau khi được ngài Pháp-Loa truyền tâm ấn, Ngài trụ-trì ở chùa Vân-Yên núi Yên-tử, tăng ni theo học có đến hàng nghìn.  Ngài lập chùa, in kinh, mở pháp hội bố thí cho kẻ nghèo, làm rất nhiều việc công đức. 

            Ba vị Tổ Trúc-Lâm trên đây đã gây tạo một uy-thế rất lớn, không những trong giới Tăng-già mà cả ngoài nhân gian nữa.  Nhưng sau đó rất tiếc là những vị kế nghiệp ba Ngài, không có ai tương xứng nữa. 

            Tóm lại, trong đời Trần, cũng như đời Lý, lịch-sử Phật-giáo có thể chia làm hai thời kỳ:  Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ phồn-thịnh gồm trong bốn đời vua đầu (gần 100 năm); thời kỳ thứ hai là thời kỳ suy vi, gồm các đời vua sau (trong khoảng 80 năm). 

VI.             PHẬT-GIÁO DƯỚI ÐỜI NHÀ HỒ (1400-1407), DƯỚI THỜI ÐÔ HỘ CỦA NHÀ MINH (1414-1427) VÀ DƯỚI ÐỜI HẬU LÊ (1428-1527) 

Phật-giáo dần dần suy sụp từ dưới đời các vua cuối nhà Trần, sang nhà Hồ và kéo dài cho đến cuối đời Hậu Lê.  Trong gần hai ngàn năm Phật-giáo có mặt trên đất nước này, có thể nói giai-đoạn này là giai-đoạn tối tăm nhất của Phật-giáo. 

Trong 7 năm chiếm đoạt ngôi nhà Trần, Hồ-Quý-Ly chưa làm được gì thì bị nhà Minh, mượn cớ khôi phục nhà Trần, kéo quân sang đánh nước ta, và đặt nền đô hộ khốc liệt trong bảy năm trời.  Bảy năm tuy ngắn ngủi, nhưng nhà Minh đã để lại một hậu quả tai hại mà 100 năm sau vẫn chưa xoá nhòa hết.  Thật vậy, sau khi xâm chiếm nước ta, nhà Minh tịch thu hết cả sách vở trong nước, trong ấy gồm cả kinh điển nhà Phật, đem về Kim-Lăng, và đốt phá chùa chiền rất nhiều. 

Một mặt phá hoại, còn một mặt nhà Minh lại cho truyền vào nước ta những hình thức mê tín dị đoan của các đạo Lão và Lạc-Ma giáo. 

Do đó, Ðạo Phật mất hết cả tánh chất thuần-túy của các thời đại trước, và trở thành một thứ tôn-giáo hổn tạp, kỳ quái, Phật không ra Phật, ma không ra ma.  Thật là một cảnh điêu tàn, hoang phế đã diễn ra trong chốn Thiền-môn !

Sang đến đờI Lê, Nho học rất thịnh hành, các sĩ-phu xô nhau ra đường khoa cử miệt mài trong tư tưởng Thống Nho.  Giáo-lý nhà Phật không làm danh làm lợi cho ai, nên đã bị bỏ quên.  Phê bình tình trạng Phật-giáo trong giai-đoạn này, Thượng-tọa Thích-Mật-Thể, trong quyển Việt-Nam Phật-giáo sử lược đã viết rất đúng như sau: 

“Việc tu đạo, đối với hạng ít học thì chỉ là một kế quyền nghi theo hình thức (1); với hạng sĩ-phu, thì chỉ là một chỗ để người nào lận-đận công danh, chán nản cuộc thế, bất bình với thói đời, nghĩa là chỉ những người yếm-thế mới tìm đến để tiêu giao ngày tháng, mượn cảnh chùa am, tiếng chuông, câu kệ, mà dứt bỏ cuộc đời bên ngoài thôi, chớ không phải là mến hiểu giáo-lý của Phật mà tu hành, và ngộ đạo, rồi lại đem đạo lý ra mà giác-ngộ cho kẻ khác”. 

Bởi vậy, trong đời Hậu Lê có thể nói là “thời đại Phật-giáo suy đồi”. 

VII.         PHẬT-GIÁO TRONG THỜI NAM, BẮC PHÂN TRANH (1528-1802) 

Nhà Hậu Lê làm vua đến đời Chiêu-Tôn, Cung-Hoàng (1516-1627) thì bị Mạc-Ðăng-Dung thoán đoạt.  Nhưng những trung thần của nhà Lê đã chống lại Mạc-Ðăng-Dung và lập triều đình nhà Lê ở vùng Thanh-Hóa, Nghệ-An.  Sau năm sáu năm chống nhau vớI nhà Mạc, nhà Lê đã nhờ công lao của họ Trịnh mà giành lại giang-sơn. 

Họ Trịnh ỷ mình có nhiều công-lao, nắm hết quyền-hành ở trong triều, vua Lê chỉ còn ngồi cho có vị, chứ không có thực-quyền. 

Họ Nguyễn, vì không muốn phục-tùng họ Trịnh, nên đã lánh vào Nam, hùng cứ một phương.  Từ đó, nước ta bị phân chia làm hai: phía Bắc sông Gianh là giang-sơn của họ Trịnh; phía Nam sông Gianh là giang-sơn của họ Nguyễn.  Hai họ, Trịnh, Nguyễn đều muốn bành-trướng thế-lực của mình để diệt-trừ đối-thủ, nên đã ra công xây-dựng phần đất của mình về mọi phưong-diện.  Về phương-diện Tôn-giáo, hai bên đều lấy đạo Phật làm Quốc-giáo và cũng sốt-sắng xây chùa tạo tượng rất nhiều. 

Cũng trong giai-đoạn này, ở Trung-quốc thường có loạn lạc, và các tôn-phái Phật-giáo thường bị sự chèn ép của Lạc-ma giáo, nên một số các vị cao-tăng đã rời quê-hương, sang Việt-Nam truyền giáo, người thì vào ở đất Bắc, người thì vào Nam.  Nhờ thế, nước ta có thêm được nhiền tôn-phái mới và nhiều vị sư Trung-hoa danh-tiếng mà ảnh-hưởng còn truyền lại đến bây giờ. 

1.  Phật-giáo trong thờI các Chúa Trịnh. 

a)     Phật-giáo trong thời này.

Vào khoảng đời vua Lê-Thế-Tôn (1573-1599) ở Bắc có phái Tào-Ðộng, cũng là chi-phái của phái Bồ-Ðề Ðạt-Ma bên Tàu.  Phái này truyền vào bởi nhà sư Trung-Hoa Trí-Giáo Nhất-Cú.  Hiện nay các vị sư trụ-trì ở các chùa Hòa-Giai, Hàm-Long, Chấn-Quốc ở Hà-Nội là đệ-tử của phái Tào-Ðộng. 

Vào khoảng đời vua Lê-Hy-Tôn (1676-1705) lại có phái Liên-Tôn, do một vị vương-công họ Trịnh là Lân-Giác thiền-sư lập ra ở chùa Liên-Phái (Bạch-Mai Hà-Nội).  Ðồng thời sư Nguyệt-Quang đều là đệ-tử của chi-phái Lâm-Tế ở Trung-Hoa truyền sang.  Hiện nay các vị sư trụ-trì ở chùa Bà-Ðá (Hà-Nội) là đệ-tử của chi-phái Lâm-Tế. 

Ngoài sự phát-triển hai phái trên, Phật-giáo ở Bắc lại được các Chúa Trịnh ủng-hộ khá mạnh: trùng tu tự-viện, thỉnh đại-tạng kinh ở Trung-Hoa về…  Các cao-tăng lúc bấy giờ cũng khá đông, danh-tiếng nhất là ngài Hương-Hải thiền-sư, mà chúng ta sẽ nói đến dưới đây. 

b)     Hương-Hải Thiền-sư. 

Ngài nguyên trước ở miền Nam, trong phần đất của Chúa Nguyễn và là dòng-dõi thế-phiệt.  Thân-sinh Ngài là một công-thần của Chúa Nguyễn.  Ngài đỗ Hương-cống (cử-nhân) lúc 18 tuổi, được tuyển vào làm việc ở phủ Chúa Nguyễn, rồi được bổ ra làm Tri-phủ ở Triệu-phong (Quảng-Trị ngày nay).  Ngài rất hâm-mộ đạo Phật và thường đàm-luận giáo-lý với các vị cao-tăng.  Ðến 28 tuổi Ngài xin từ quan, xuất-gia đầu Phật.  Ngài ra chơi ở núi Tiêm-bút-la ngoài Nam-hải, rồi lập am ở lại trụ-trì.  Ðạo hạnh Ngài rất cao, quan dân xa gần đều cảm-mộ.  Chúa Nguyễn (Nguyễn-Phúc-Chu 1691-1715) nghe danh, sai người ra hải-đảo mời về, và lập chùa để Ngài trụ-trì.  Nhưng sau vì sự nghi-ngờ của Chúa Nguyễn, Ngài bỏ miền Nam, đóng thuyền vượt biển cùng 50 đệ-tử ra Bắc và được Chúa Trịnh và vua Lê rất mến phục, vua Lê-Vũ-Tôn (1706-1726) thường mời Ngài vào cung để hỏi đạo. 

Một hôm vua hỏi Ngài: 

-         Trẫm nghe Thiền-sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Thiền-sư thuyết-pháp cho nghe để Trẫm hiểu được đạo. 

Ngài nói: 

-         Bần-tăng có bốn câu kệ này, xin Bệ-hạ để tâm suy nghĩ: 

Nguyên văn:  Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

                        Thẩm sát tư duy tử tế khan.

                        Mạc giáo mộng trung tầm tri-thức,

                        Tương-lai diện thượng đổ sư nhan. 

Dịch nghĩa:    Nghe lại điều mình thấy những ngày,

                        Suy đi, nghĩ lại, kỹ càng hay.

                        Chớ tìm tri-thức trong cơn mộng,

                        Có thế mới hay nhận được thầy (Ðạo). 

Vua hỏi: 

-         Thế nào là ý của Phật ? 

Ngài đáp: 

Nguyên văn:  Nhạn quá trường không

                        Ảnh trầm hàn thủy

                        Nhạn vô di tích chi ý

                        Thủy vô lưu ảnh chi tâm. 

Dịch nghĩa:    Nhạn liệng giữa không

                        Bóng chìm dưới nước

                        Nhạn không để dấu lại

                        Nước chẳng lưu bóng làm chi. 

Ngài thường đọc những câu kệ để dạy tăng-chúng, như sau: 

Nguyên văn:  Tầm ngưu tu phòng tích

                        Tích tại ngưu hoàn tại

Học đạo, quí vô tâm

                        Vô tâm đạo dị tầm.

Dịch nghĩa:    Tìm trâu, tìm dấu chân trâu

                        Dấu còn trâu chẳng mất đâu bao giờ.

                        Những người học đạo chớ ngờ,

                        Vô tâm thì đạo có cơ dễ tìm.                       

2.  Phật-giáo trong thời các Chúa Nguyễn. 

a)     Phật-giáo trong thời này. 

Trong khi Phật-giáo Miền ngoài trổi dậy, thì đồng-thời Phật-giáo Miền trong cũng phát-đạt.  Từ khi Nguyễn-Hoàng vào trấn Thuận-Hóa, cho đến khi nhà Nguyễn thống-nhất đất nước, trong hơn hai trăm năm, họ Nguyễn đối với Phật-giáo hết lòng sùng thượng, tạc tượng, đúc chuông, lập tự-viện rất nhiều.  Bấy giờ có nhiều vị tăng từ Trung-hoa như ngài Tế-Viên, ngài Giác-Phong v.v… ở Trung-hoa sang truyền giáo; trong số các vị tăng Trung-hoa, có một vị Thánh-tăng mà ảnh-hưởng còn truyền lại bây giờ là Tổ-sư Nguyên-Thiều.  Riêng về các vị Tăng Việt-Nam, thời có ngài Liễu-Quán là một vị Tổ đã làm cho Phật-giáo miền Nam thời ấy được vô cùng rực-rỡ. 

b)     Các vị Danh-tăng. 

-         Ngài Nguyên-Thiều: 

Ngài họ Tạ, quê ở Trùng-Hương (Quảng-Ðông).  Xuất-gia từ năm 19 tuổi, Ngài tu ở chùa Báo-Tự, thọ giáo với ngài Bổn-khoa Khoán-Viện Hòa-thượng.  Niên hiệu Cảnh-Trị năm thứ ba đời Lê-Huyền-Tôn (1665), Ngài đi theo tàu buôn của An-Nam, trú ở phủ Qui-Ninh (Bình-Ðịnh) lập chùa Thập tháp Di-Ðà, mở trường dạy Phật-pháp, sau ra Thuận-hóa, lập chùa Hà-Trung, rồi lên Xuân-Kinh (Huế) lập chùa Quốc-Ân và dựng tháp Phổ-Ðồng. 

Sau Ngài phụng mạng đức Anh-Tôn (Nguyễn-Phúc-Tráng 1687-1691) trở về Trung-quốc, tìm mời các danh-tăng và cung-thỉnh pháp-tượng, pháp-khí.  Ngài về Quảng-Ðông mời được Hòa-thượng Thạch-Liêm và các danh-tăng khác, cùng thỉnh được nhiều kinh-điển, tượng, pháp-khí trở về Nam.  Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới rất long-trọng tại chùa Thiên-Mụ.  Sau đó, Chúa Nguyễn sắc ban Ngài chức Trụ-trì chùa Hà-Trung. 

Một hôm, Ngài lâm bệnh, họp môn-đồ lại dặn-dò mọi việc, và truyền bài kệ sau đây: 

                                                Tịch tịch, kính vô ảnh

                                                Minh minh, châu bất dung

                                                Ðường đường, vật phi vật

                                                Liêu liêu, không vật không. 

Ðại ý:  Thể pháp-thân thanh-tịnh sáng-suốt như mảnh gương sạch không bụi, như ngọc minh-châu, trong sáng bóng ngời.  Tuy hiện tiền sự sự, vật vật sai khác, nhưng đều là thể pháp-thân biểu-hiện.  Thể pháp-thân thường vắng-lặng mà không phải là không, tức là lý “chân không diệu hữu”. 

Ngài viết xong bài kệ, ngồi yên-lặng mà tịch. 

-         Ngài Liễu-Quán: 

Ngài họ Lê, húy Thiện-Diệu, quê ở làng Bạch-mã, huyện Ðồng-Xuân, tỉnh Phú-Yên (Sông Cầu bây giờ).  Ngài mồ-côi mệ lúc 6 tuổi, thân-sinh Ngài cho Ngài xuất-gia và đầu sư với ngài Tế-Viên Hòa-thượng, người Trung-Hoa.  Ðược bảy năm, Hòa-thượng viên-tịch, Ngài ra Thuận-Hóa học với Giác-Phong Lão-tổ (người Trung-Hoa) ở chùa Bảo-Quốc.  Năm 1691, Ngài trở về cố hương phụng-dưỡng cha già, phải đi đốn củi để sinh-nhai.  Ðược bốn năm, sau khi thân-phụ Ngài qua đời, Ngài trở ra Thuận-Hóa, thọ giới Sa-di vớI ngài Thạch-Liêm Hòa-thượng (cũng người Trung-Hoa). 

Năm 1699, Ngài đi tham lễ khắp Thiền-Lâm để bồi bổ cho sự tu-hành.  Qua năm 1702, Ngài đến Long-Sơn, cầu học pháp Tham-thiền với ngài Tử-Dung Hòa-thượng (Tổ khai son chùa Từ-Ðàm, Huế). 

Về phần hóa đạo, Ngài rất tinh-tấn không nề khó nhọc.  Luôn luôn Ngài lập đàn truyền giới, tiếp chúng độ tăng.  Năm 1740, Ngài tấn đàn Long-hoa phóng-giới, rồi từ đó, Ngài trở về núi Thiên-Thai, dựng thảo-am, ẩn náu tu hành, nay tức là chùa Thiền-Tôn. 

Chúa Nguyễn-Minh-Vương rất mến trọng đạo-hạnh Ngài, thường mờI Ngài vào cung đàm-đạo.  Mùa Xuân năm 1742, Ngài lại dự giới-đàn ở chùa Viên-Thông.  Cuối mùa Thu năm ấy, Ngài thọ bệnh, khi sắp lâm-chung, Ngài gọi môn-đồ lại dạy rằng: “Nhân duyên đã hết, ta sắp chết đây”.  Thấy môn-đồ khóc, Ngài dạy rằng: 

-         Các người khóc làm gì?  Các đức Phật ra đời còn nhập Niết-bàn, thì ta nay, đi đến rõ-ràng, về tất có chỗ, các ngươi không nên khóc và đừng buồn thảm. 

Kế đó, Ngài viết bài kệ, từ biệt:

Nguyên văn:  Thất thập dư niên, thế-giới trung

                        Không không, sắc sắc, diệu dung thông

                        Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý

                        Hà tất bôn man vấn tổ-tông. 

Dịch nghĩa:    Ngoài bảy mươi năm trong thế-gian

                        Không không, sắc sắc thảy dung-thông

                        Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ

                        Nào phải ân-cần hỏi tổ-tông. 

Viết xong, Ngài bảo môn-đồ rằng: 

-         “Sau khi ta đi, các ngươi phảI nghĩ đến cơn vô-thường nhanh chóng, cần phải siêng-năng tu học, các ngươi hãy cố-gắng tới, chớ bỏ quên lời ta”. 

Ðến ngày 22 tháng 11 giữa mùa đông năm Nhâm tuất (1742) vào giời mùi, Ngài dùng nước trà xong, vui vẻ từ biệt môn-đồ, tiêu diêu thoát hồn. 

Chúa Minh-Vương được tin, liền ban thụy-hiệu là “Ðạo Hạnh Thụy Chánh-giác Viên-ngộ Hòa-thượng”. 

VIII.      PHẬT-GIÁO DƯỚI ÐỜI CÁC VỊ VUA ÐẦU TRIỀU NGUYỄN 

Tình trạng Phật-giáo trong giai đoạn này. 

Nhà Nguyễn Tây-Sơn, trong một giai đoạn ngắn, đã chấm dứt tình trạng Nam, Bắc phân tranh và thống nhất sơn hà về một mối.  Nhưng chẳng bao lâu, chúa Nguyễn-Phúc-Ánh diệt được nhà Nguyễn Tây-Sơn, thu hồi lại đất nước và mở đầu cho Triều Nguyền, lấy niên hiệu Gia-Long. 

Trong giai đoạn này, nước ta sống trong cảnh chiến-tranh thường trực, ít ai có thì giờ nghĩ đến chuyện chấn-hưng đạo đức tôn-giáo.  Một số chùa chiền bị tàn phá, kinh điển thất-lạc, cảnh hoang tàn thật tiêu điều buồn bã.  Vua Gia-Long lên ngôi, công việc trước tiên của Ngài là lập lại nền an-ninh trật-tự trong nước, chứ cũng chưa có thì giờ để lo chuyện chấn hưng Phật-giáo.  Quan đến đời Minh-Mạng và Thiệu-Trị, các Ngài cũng bắt đầu sắc trùng tu những ngôi chùa Tổ-đình quan trọng, nhưng trong dân gian thì ảnh hưởng đạo Phật mỗi ngày mỗi lu mờ, phai nhạt lần.  Các vị cao tăng vẫn có, như ngài Phổ-Tịnh Hòa-thượng, An-Thuyền Ðại-sư, Diệu-Giác Hòa-thượng, Giác-Ngộ Hòa-thượng.  Nhưng vì quá ít ỏi, nên quí vị ấy, chẳng khác gì những chiếc sao lẻ tẻ trong bầu trời đen tối, chẳng soi sáng được gì. 

Ðến khi người Pháp đặt nền đô hộ trên đất nước này, thì đạo Phật lại càng suy đồi, mất hết cả những gì là thuần túy, cao siêu, mà chỉ còn như là một thần đạo, mà nhiệm vụ chính là lo việc cúng vái mà thôi. 

Ðể có một ý niệm chung về sự tồI tệ của Phật-giáo trong giai đoạn này, chúng tôi xin trích một đoạn nhận xét rất xác sau đây mà Thượng-tọa Thích-Mật-Thể đã viết trong cuốn Việt-Nam Phật-giáo sử lược: 

“…Ðến đây, từ vua quan cho đến thứ dân, ai ai cũng an trí đạo Phật là ở sự cúng cấp, cầu đảo, chứ không biết gì khác nữa.  Và phần đông họ chỉ trọng ông thầy ở chỗ danh vọng, chức tước, mặc dù ông thầy ấy thiếu học, thiếu tu.  Bởi tệ hại ấy, tăng đồ trong nước lần lần sa vào con đường trụy lạc, cờ bạc, rượu chè đắm trước thanh sắc.  

Ở miền trung nguyên Bắc-kỳ, về kỷ luật, tăng-già bên ngoài còn giữ được nghiêm chỉnh đôi chút, chứ ở Trung-kỳ phần nhiều họ đã có vợ, có con một cách công nhiên, không ấy náy.  Nhất là ở Nam-kỳ lại càng hỗn độn nữa…  Phần đông tăng đồ chỉ nghĩ đến danh vọng, chức tước: xin bằng Tăng cang, Trụ Trì, Sắc-tử v.v… hay chỉ biết cúng cấp, cầu đảo, phù chú, làm tay sai cho các vua chúa, quan quyền, phú hộ để làm kế sanh nhai: còn một hạng nữa, chỉ giữ mình cho được thanh nhàn, ăn chơi tiêu khiển, bảo là giải-thoát v.v… ! 

Bởi vậy, các cảnh chùa trong nước đã thành những cảnh gia-đình riêng, không còn gì là tính cách đoàn thể của một tôn-giáo nữa.  Họ sống trong Phật-giáo hầu hết chỉ còn là “dốt” và “quên”!  “Quên” để khỏi phải biết đến bổn phận - bổn phận chơn chánh của một Tăng-đồ. 

Ở trong tăng-đồ thì như vậy, ở ngoài tín-đồ cư-sĩ thì cũng ngơ ngác, mù lòa tin bướng, theo càn, ít ai là người hiểu đạo lý. 

Trong lịch-sử Phật-giáo Việt-Nam, ta có thể đánh vào đây một dấu than (!) rất to tướng.” 

C.  KẾT-LUẬN: 

            Chúng ta đã theo dõi dấu chân những nhà truyền bá đạo Phật đầu tiên ở trên đất nước này cho đến thời cận đại.  Trong gần hai mươi thế-kỷ hiện diện trên dãy đất Việt-Nam này, đạo Phật đã trải qua biết bao cơn thăng trầm, suy thịnh.  Những sự biến chuyển ấy, không đơn phương, mà bao giờ cũng đi song song với sự biến chuyển chung của đất nước.  Mỗi lần vận nước hưng lên thì đạo Phật cũng phát-triển mạnh, mỗi lần vận nước suy nhược, thì đạo Phật cũng thoái trào. 

            Ðiều nhận xét thứ hai là những vị anh quân thường thường là những Phật-tử thuần thành, luôn luôn ủng hộ và khuyến khích sự truyền bá Phật-pháp.  Trái lại, những vị vua ít hiểu đạo, phá đạo phần nhiều cũng là những vị ít thành công nhất trong sự trị nước, an dân. 

            Do hai nhận xét trên, chúng ta có thể kết luận rằng: Ðạo Phật đã mật thiết hòa mình trong cuộc sống của dân tộc Việt-Nam trong quá-khứ.  Và từ đây về sau, muốn cho đất nước được an cư lạc nghiệp và có một tương lai rực rỡ, những nhà lãnh đạo quốc-gia phải dành cho đạo Phật một địa vị quan trọng trong mọi sinh hoạt của nước nhà.

______________ 

(1).  Ðể khỏi nói là một kế sinh nhai.


Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712